Thứ Hai, 25 tháng 1, 2016

Một thời lênh láng

Nàng chỉ thấy ta làm thịt chó
Đâu thấy hồn thi sĩ trong ta
Tay quạt lửa mà đầu vẫn nghĩ
Cho vần thơ lênh láng chảy ra…
Hôm rồi có bạn dẫn lại mấy câu thơ trên, làm tôi nhớ ra một bài dự cuộc thi "Cây bút biếm" của báo Tuổi Trẻ Cười. May còn giữ được tờ TTC số tháng 9/1994, có đăng bài đó.

Chuyện Phố Tôi

          Ngày tôi còn nhỏ, phố tôi là một con đường lổn nhổn đá ở ngoại vi thành phố, hai bên phần lớn là các cơ quan, xí nghiệp và khu tập thể. Thời đó là thời của tem phiếu, khi cửa hàng mậu dịch bán đậu thì mọi nhà đều ăn đậu, cửa hàng bán cá biển thì cả khu tanh nồng mùi cá biển… Có khi thực phẩm cửa hàng bị ôi thiu, thế là sau bữa ăn cả khu theo nhau xách quần chạy ra nhà xí! Khổ nỗi, cả khu tập thể chỉ có một dãy nhà xí với vài khoang, nên lúc đó người ta phải xếp hàng, phải chen lấn. Bọn nhóc chúng tôi thuộc lòng mấy câu thơ, không biết do ai xuyên tạc:
Đố ai định nghĩa được chữ yêu
Có khó gì đâu, một buổi chiều
Chàng, nàng chạm trán nơi… nhà xí
Nhường nhau… “đi” trước, thế là yêu!
          Lớn lên tôi đi học xa, đi làm xa, rồi lấy vợ ở xa, lâu lâu mới về thăm bố mẹ một lần. Mấy năm gần đây, mỗi lần về thăm lại thấy phố tôi có nhiều thay đổi. Con đường nay đã được trải nhựa, những dãy tường rào rêu mốc đã bị phá bỏ gần hết, những dãy nhà tập thể dài thượt quay lưng ra đường đã bị thay thế bằng những ngôi nhà hai, ba tầng đủ kiểu Tây Tàu kim cổ. Có ngôi nhà tầng dưới tường ốp đá đen cửa sắt, tầng trên cửa vòm tường gạch son, trên sân thượng là am thờ kiểu chùa Một Cột. Có ngôi nhà, mặt tiền được ốp bằng gạch men trắng xưa nay thường được dùng trang trí toa-lét. Số nhà được đánh rất ngẫu hứng: 22, 24…, 60, 62, 18, rồi lại 24. Thậm chí có cả nhà số chẵn bên dãy số lẻ. Chỉ khổ nhân viên bưu điện và những ai tìm nhà mà mình chưa từng đến.
          Đường phố đông vui sáng sủa hơn hẳn trước kia, đến mức có người phải than: “Đông vui quá, đông vui không chịu nổi”. Trước nhà tôi có một quán karaoke luôn tấp nập các cô cậu “nhí” đến thử giọng hoặc khoe giọng từ sáng sớm tới đêm khuya. Đến đêm, đã quá 12 giờ mà vẫn còn phải nghe những tiếng nỉ non “đêm đêm ngửi mùi hương…” hay “mời chàng hãy cùng tôi vui đêm nay…” được khuếch đại hết cỡ, vợ chồng ông anh cạnh nhà tôi đành chịu “vỡ kế hoạch”.
          Chưa hết, vừa chợp mắt được một chút sau khi quán karaoke tắt tiếng, người ta lại bị đánh thức bởi tiếng rống thảm thiết của các chủ ỉn bị chọc tiết. Cách nhà tôi vài căn là một nhà làm nghề mổ lợn lậu. Họ mổ lợn ở ngay hè phố trước nhà, nước làm lông được đun sôi trong thùng phuy, bằng điện câu từ dây điện đường. Nước rửa từ đó chảy lênh láng dưới đường, tới tận trước nhà tôi, mang theo cả lông và phân lợn, dĩ nhiên mùi còn bay xa hơn nhiều. Mọi người xung quanh đều bất bình, nhưng chẳng ai dám nói, bởi không muốn thấy trên tường và cả cánh cửa nhà mình bê bết phân lợn. Hơn nữa, mấy thằng con trai nhà đó đứa nào cũng lực lưỡng!
          Lần về thăm gần đây nhất, tôi được mấy ông bạn cũ đưa tới một quán thịt chó mới khai trương. Trước cửa quán treo tấm biển lớn kẻ tên “Quán Cầy Tơ Văn Nghệ”, phía dưới hàng tên là dòng chữ “Ngon – Bổ - Rẻ - Giảm giá cho văn nghệ sĩ”. Trong quán treo la liệt tranh chó: Chó đánh bài, chó đua mô tô, chó đấm bốc… và ảnh người đẹp ôm chó. Đặc biệt là bốn câu thơ lục bát kẻ nắn nót trên tường:
Thịt chó vừa rẻ vừa ngon
Chả chìa, dồi nướng lại còn tiết canh
Ăn vào già cũng hồi xuân
Đêm về vợ bảo: “Trai tân chẳng bằng”!
          Quán rộng rãi mát mẻ, nhưng chất lượng món ăn vào loại xoàng. Đang ăn, thấy chủ quán tới gần, tôi chỉ mấy câu thơ trên tường, hỏi do ai làm. Dường như chỉ chờ có thế, ông chủ kéo ghế ngồi cạnh chúng tôi, hãnh diện khoe đó là sáng tác của ông. Cao hứng, ông đọc tiếp bài thơ “vừa làm tối qua”:
Cầu vồng bảy sắc lung linh
Ước gì hai đứa chúng mình được lên
Cầy tơ bảy món mời em
Em ăn, quên cả chuyện lên cầu vồng!
Cả quán vỗ tay đôm đốp, mọi cặp mắt đều dồn vào ông chủ quán. Được đà, ông đọc tiếp:
Nàng chỉ thấy ta làm thịt chó
Đâu thấy hồn thi sĩ trong ta
Tay quạt lửa mà đầu vẫn nghĩ
Cho vần thơ lênh láng chảy ra…
Ông còn kể cho chúng tôi dự định in một tập thơ, nhan đề là “Bảy sắc cầu vồng”, mỗi khách tới quán “Cầu Tơ Văn Nghệ” sẽ được tặng một tập. Khi chúng tôi đứng lên, ông tiễn chân ra tận cửa, vỗ vai chúng tôi: “Bữa nào vui vẻ lại tới nhé. Cùng là dân văn nghệ nói chuyện thật khoái”. Ông tự nhận là “dân văn nghệ” và do đó chúng tôi cũng được ông coi là “dân văn nghệ” nhưng chuyện giảm giá thì ông lờ tịt.

Tôi lại sắp có dịp về thăm phố cũ. Chẳng biết ông chủ quán “Cầy Tơ Văn Nghệ” đã in được tập thơ chưa, để tôi đến kiếm một tập về đọc chơi. Cũng có thể, lần này tôi lại được thấy thêm một chuyện mới mẻ hay ho, một cô bạn cũ bỏ chồng để lấy Tây chẳng hạn. Biết đâu đấy!  

CON ĐƯỜNG VÀ BÁC TÀI

Hầu hết ý kiến trên mạng về ĐH XII tập trung vào chuyện nhân sự. Vị nào ngồi ghế nào, chuyện đó cũng rất quan trọng. Nhưng đường hướng phát triển của đất nước, của Đảng trong thời gian tới sẽ không phụ thuộc quá nhiều vào chuyện vị nào ngồi ghế nào. Đường hướng đó, có thể thấy từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, trong đó nội dung quan trọng nhất là việc ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).   
          “Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI tán thành, đồng ý để Chính phủ cùng chính phủ các nước ký Hiệp định TPP vào đầu tháng 02/2016; giao Bộ Chính trị chỉ đạo công tác chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn Hiệp định theo đúng quy định của pháp luật; xây dựng đề án trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập quốc tế trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có Hiệp định TPP”.
Tham gia Hiệp định TPP, Việt Nam chúng ta sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, hải quan, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ, lao động…

          Đảng đã chấp nhận những thay đổi đó, sẽ là những thay đổi rất sâu sắc, không chỉ về kinh tế mà cả về thiết chế xã hội, sẽ dẫn tới sự thay đổi về thể chế hành chính nhà nước. 

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2016

Đếm giông trong cát - 2

- Ba, cái xe máy của con tã rồi, ba cho con tiền mua chiếc SH nhé.
          - Ừ, ít bữa nữa ba cho.
          - Anh Hai sướng quá ha. Con chỉ ước có cái xe đạp điện để đi học đỡ nhọc và cái Iphone, học kỳ này con được học sinh giỏi, ba mua cho con nha.
- Rồi.
- Này ông, tiền đâu mà hứa sắm toàn những thứ nhiều tiền cho tụi nhỏ? Cái  ti vi cũ, ông còn chưa thay được cho tôi đấy. Xem phim Cô dâu 8 tuổi mà cứ chớp nhá chớp nhá, bực bội quá.
- Mấy bữa nữa mở đường xây cầu Long Hồ mới, đất mình ra mặt tiền, tôi bán một miếng mua cho bà cái ti vi 40 inh luôn.
- Còn mùng thất mới xây cầu, tiền đâu mà xây.
- Bà không nghe tỉnh nói đổi đất sân bay Nha Trang để lấy tiền xây cầu à?
- Tôi có nghe, nào là xây khu trung tâm hành chính tổ yến, nào là xây đường băng mới của sân bay Cam Ranh, nào là làm đường, nào là xây cầu nọ cầu kia. Có mỗi khu đất sân bay mà muốn đổi lấy tiền xây bao nhiêu thứ.  
- Mấy năm trước, ông Chủ tịch tỉnh nói chỉ cần bán 90 ha đất sân bay Nha Trang, sẽ có 27 nghìn tỷ đồng mà.
- Xưa rồi, quê rồi ông ơi. Tất cả đất sân bay Nha Trang có giá 12 nghìn tỷ đồng, trừ phần làm vốn xây dựng sân bay mới, hơn trăm ha còn lại được định giá 6 nghìn tỷ đồng thôi. Tiền đó xây khu tổ yến vỡ là hết rồi, ông đừng mơ còn tiền xây cầu qua trước nhà mình nhé....
          - Hai dà! Vậy tôi không tính bán đất nữa, để vậy nuôi giông cho chắc ăn.

          - Ông tính vậy là phải. Đừng như mấy ổng, cứ đếm cua trong lỗ, đếm giông trong cát. 

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Ở hai đầu nỗi nhớ

            Họ là những người quen từ lâu của tôi, từng được nhắc đến hay đăng ảnh trên báo Tiền Phong và một số báo khác. Chia ly hay sum họp, câu chuyện Xuân của họ đều gắn với hai tiếng – Trường Sa. 
Gia đình trung úy QNCN Nguyễn Duy Chinh ở quân cảng Cam Ranh, ít phút trước khi anh ra làm nhiệm vụ ở đảo Trường Sa Đông 
           
Bến cảng Cam Ranh, 8 năm trước

Chiều ngày 6-1-2008 trên quân cảng Cam Ranh, tôi gặp một phụ nữ trẻ từ Hải Phòng vào, đang hồi hộp chờ lên tàu ra Trường Sa. Hoàng Thị Mai được mời tham gia chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ” của VTV3, ghi hình tại đảo Trường Sa, nơi có chồng cô, thiếu úy QNCN Nguyễn Duy Chinh. Là đồng hương Vĩnh Bảo (Hải Phòng), năm 1999 họ quen nhau qua mục “Thư kết bạn” trên báo Tiền Phong. Cuối năm 2004 họ làm đám cưới, khi Mai đang là cô giáo trường mầm non của Cty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu.

Hoàng Thị Mai trên tàu 936 trước giờ ra Trường Sa, ngày 6/1/2008 
Từ tháng 9/2005 khi Duy Chinh ra đảo Trường Sa đến ngày 8/1/2008, khi được ở trong vòng tay nhau trên đảo Trường Sa, họ đã phải xa nhau 28 tháng đằng đẵng, con trai Nguyễn Hoàng Tuấn Đạt đã được 21 tháng tuổi nhưng chưa một lần được bố bế… Câu chuyện của họ đã được kể trong bài “Hội ngộ bất ngờ ởTrường Sa”, trên báo Tiền Phong số ra ngày 29/1/2008 và 2/2/2008.
Giây phút vợ chồng Chinh - Mai gặp nhau trên đảo Trường Sa, sáng ngày 8/1/2008

Cũng ngày 6/1/2008, đang mang thai đứa con đầu lòng, Nguyễn Thị Phấn, cán bộ Huyện đoàn Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) tiễn chồng, trung úy QNCN Đỗ Việt Tiến ra làm nhiệm vụ ở đảo Nam Yết. Tháng 4/2008, sắp đến ngày sinh Phấn vẫn tìm tôi, nhờ chuyển quà cho chồng. Nam Cường, phóng viên báo Tiền Phong được ra đảo Nam Yết đã chuyển quà tới tận tay Việt Tiến. “Chỉ là mấy cái quần đùi, vì anh ấy nói ở đảo nước mặn, quần áo mau rách, và thuốc bổ gan, đỡ ngứa, vì ngoài đó ăn uống còn thiếu chất”. Sau này, Phấn tiết lộ với tôi về gói quà.
Chiều ngày 15/12/2008, khi nơi nơi chuẩn bị đón xuân, có ba con tàu từ bến cảng Cam Ranh đưa những người lính ra các điểm đảo ở huyện đảo Trường Sa. Tàu 996 từ từ rời bến, một chàng trung úy trẻ trên tàu và một cô gái trên bến cảng vừa vẫy tay tạm biệt, vừa nói với nhau qua điện thoại. Cô gái miệng cười mà mắt nhòa lệ. Họ là trung úy xe tăng Trịnh Đức Thành, ra làm nhiệm vụ ở đảo Nam Yết và Phan Huyền Trang, kế toán Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa. Ảnh của họ đã được đăng trong bài “Trường Sa – Kẻ ra người nhớ” trên báo Tiền Phong số Xuân Kỷ Sửu (2009).
         
“Người lái đò” Trường Sa

Một trong những người lính Trường Sa được nhiều người đi thăm Trường Sa biết đến là thượng úy QNCN Tống Văn Tùng, chủ trang facebook Tống Tùng, trước kia là Người lái đò. Sau gần 5 năm làm nhiệm vụ ở các đảo Sơn Ca, Đá Tây A và Len Đao, Tùng được chuyển về tàu khách 996 của Vùng 4 Hải quân, đã tham gia vài chục chuyến đưa khách thăm Trường Sa và khu vực DK1. Anh đã chụp được nhiều ảnh độc đáo về các đảo ở Trường Sa, về cảnh khách lên thăm nhà giàn DK1 bằng cách đu dây, ảnh những đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng trái phép ở Trường Sa…
Cuối năm 2011 và đầu năm 2012, tôi đi công tác ở Trường Sa trên tàu 996. Đó cũng là chuyến đi biển đầu tiên của Tống Tùng, khi vừa cưới vợ được 3 tháng. “Chúng em nên duyên như là trời định”, chàng trai Tĩnh Gia, Thanh Hóa kể. Năm 2007, sau hai năm ở đảo Sơn Ca, Tùng về quê nghỉ phép, bố mẹ giục anh lấy vợ. Nhỏ dại gì cho cam, đã 28 tuổi rồi. Nhưng chưa kịp tìm người yêu, Tùng đã phải trở lại đơn vị để tiếp tục đi đảo. Không ngờ, đó là lần nghỉ phép cuối cùng Tùng được gặp bố mẹ, anh không kịp báo hiếu song thân khi họ còn sống. Tháng 9/2008, bố mẹ Tùng vào Đắc Nông làm đám cưới cho em gái anh, trên đường về đến Nghệ An thì gặp tai nạn. Đang ở đảo Đá Tây A, Tùng được cho vào bờ chịu tang bố mẹ. Anh gặp lại Thanh Thương vào dịp đó. 
Vợ chồng "người lái đò" Tống Tùng
Năm 1998, Tùng từ quê ra phố, ở trọ tại nhà Thanh Thương để ôn thi đại học. Ngay ngày đầu tiên ở trọ, Tùng bị sốt, được mẹ Thanh Thương tận tình chăm sóc. Suốt thời gian ở trọ, Tùng được bà chăm nuôi như con trong nhà. Bởi vậy, sau này mỗi lần về phép Tùng đều ra thăm bà. “Không phải kiếm cớ thăm con gái bả đâu nhé. Hồi em trọ học cô ấy mới 10 tuổi, em cũng chưa biết gì”. Tùng kể. Về chịu tang bố mẹ, Tùng ra thăm bà chủ nhà trọ ngày xưa, gặp lại Thanh Thương, lúc đó vừa học hết năm thứ nhất đại học. Tháng 4/2009 Tùng vừa ngỏ lời yêu thì lại nhận nhiệm vụ ra đảo Len Đao, đến tháng 9/2011 họ mới làm đám cưới. Bây giờ, vợ chồng Tùng đã có cậu con trai hơn 3 tuổi và một căn nhà nhỏ gần Bệnh viện Đa khoa thành phố Cam Ranh (Khánh Hòa), nơi Thanh Thương làm việc.
Tống Tùng và nữ sinh viên Đoàn Ngọc, tác giả tập thơ “Ngược Sóng” viết về Trường Sa, trên tàu 996 đi thăm Trường Sa, tháng 5/2015 
Khi bài này lên blog, “Người lái đò” lại đang đưa hàng Tết ra với đồng đội ở Trường Sa.     
Nao nức xuân về

Sáng ngày 22/4/2014, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh Hậu Giang giao lưu với bộ đội đảo Sơn Ca. Anh lính đầu tiên ra hát chính là trung úy QNCN Nguyễn Duy Chinh. Đó là lần thứ hai tôi gặp Duy Chinh ở Trường Sa, sau lần đầu là ngày 16/5/2013, trên đảo Trường Sa. Từ năm 2008 đến nay, Duy Chinh đã ra Trường Sa làm nhiệm vụ 4 lần nữa. Cậu con trai Tuấn Đạt đã học lớp 4, gia đình anh đã có thêm cô con gái Hà Linh gần 6 tuổi, còn Mai ở nhà làm nghề may. “Em đi xa suốt, mình cô ấy không thể vừa đi dạy vừa nuôi hai con nhỏ”. Duy Chinh nói với tôi, khi chuẩn bị ra làm nhiệm vụ ở Trường Sa. Tết này, gia đình anh lại không được quây quần bên nhau.     
“Chồng em ở Trường Sa sắp về rồi”. Phấn khoe, khi tôi đến thăm 3 mẹ con cô ở thị trấn Khánh Vĩnh. Sau đảo Nam Yết, Việt Tiến còn đi làm nhiệm vụ ở các đảo Sơn Ca, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, rồi lại ra đảo Nam Yết, tổng cộng hơn 5 năm rưỡi. Hai con trai của anh đều sinh ra khi anh đang ở đảo Nam Yết, Chí Vĩ sinh tháng 5/2008, 8 tháng sau bố mới về, Tiến Nam sinh tháng 10/2014, nay đã hơn 14 tháng mới sắp được bố bế. Kể chuyện vất vả nuôi hai con nhỏ, rồi trong mắt Phấn lại ánh lên niềm vui. Tết này, lần đầu tiên cả nhà cô sẽ được cùng ra Bắc, đón Xuân ở hai quê, Thái Bình và Bắc Ninh.    
Niềm vui của mẹ con chị Nguyễn Thị Phấn khi chồng chị, anh Đỗ Việt Tiến sắp về từ đảo Nam Yết

Niềm vui ấy, tôi cũng thấy trong mắt của vợ chồng đại úy Trịnh Đức Thành. Họ đã kết hôn năm 2012, Huyền Trang vừa sinh con gái cuối tháng 11/2015, đặt tên con là Vân Khánh. “Lần sau nếu đẻ con trai, chúng em sẽ đặt tên là Trịnh Phan Vinh, vừa có họ của em, vừa mang tên đảo Phan Vinh ở Trường Sa”. Huyền Trang vừa nựng con gái, vừa nói.   
Niềm vui, hạnh phúc khi xuân về của vợ chồng đại úy Trịnh Đức Thành và con gái

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Vụ án vườn điều, Huỳnh Văn Nén và án oan kép – kỳ 4: Những người gây oan và những người giải oan

Người truyền lửa

Báo Tiền Phong số ra ngày 20/11 đăng bài “Người thầy góp phần cứu trò khỏi án oan”, viết về ông Nguyễn Thận, nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Minh (nay là thị trấn Tân Minh) đã rất kiên trì, quyết liệt, vượt qua bệnh tật, tai nạn, chấp nhận bị ảnh hưởng cả sinh mạng chính trị để giải oan cho các bị can vụ án vườn điều và và vụ án bà Lê Thị Bông (vụ án Huỳnh Văn Nén). Theo kết luận điều tra của Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận, vụ án vườn điều xảy ra do lá thư hẹn hò của nạn nhân Dương Thị Mỹ bị phát giác. Nhưng gặp tôi lần đầu tiên vào ngày 14/2/2000, ông Thận đã nêu nghi ngờ kết luận này, vì bà Mỹ không biết chữ. Ông còn nêu một nghi vấn về động cơ giết bà Mỹ, vì đêm bà Mỹ bị giết, đêm 18/5/1993 chính là đêm trước ngày TAND huyện Hàm Tân xử vụ ly hôn của vợ chồng bà Mỹ. Từ đó, tôi đã đến TAND huyện Hàm Tân đọc hồ sơ vụ ly hôn của bà Mỹ và có bằng chứng không thể phủ nhận, rằng bà Mỹ không hề biết chữ.
Ông Nguyễn Thận tại buổi giao lưu “Huỳnh Văn Nén – Hành trình giải oan xuyên thế kỷ” do báo Tiền Phong tổ chức, ngày 2/12
Tháng 4/2002, sau khi nữ LS Phạm Thị Kim Anh không thể tiếp tục bào chữa cho các bị cáo vụ án vườn điều, dù đang gặp rất nhiều khó khăn, phiền nhiễu, ông Thận vẫn tìm cách thuyết phục được với LS Phạm Hồng Hải và LS Trần Vũ Hải ở Hà Nội bào chữa miễn phí cho họ. Từ 2006 đến năm 2013, sau khi vụ án vườn điều được khẳng định là án oan, ông Nguyễn Thận đã nhiều lần cùng cụ Huỳnh Văn Truyện, cha ông Nén và anh Huỳnh Trung Nghĩa, anh rể ông Nén mang đơn kêu oan, kiến nghị xem xét lại vụ Huỳnh Văn Nén ra Hà Nội, gửi các cấp có thẩm quyền ở Trung ương. Dù các kiến nghị, đơn kêu oan bị bỏ qua, ông Nguyễn Thận vẫn động viên cụ Huỳnh Truyện kiên trì kêu oan bằng những biện pháp chính đáng.
  Nói không hề quá, ông Nguyễn Thận chính là người truyền lửa và giữ lửa cho chúng tôi, để không thoái chí, nản lòng trên con đường dằng dặc dài tìm công lý cho những người dân khốn khổ.  

Cuộc marathon tiếp sức của nhiều luật sư

          Sinh năm 1974, LS Nguyễn Hồng Hà (nay là Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa) nhận lời bào chữa cho các bị can vụ án vườn điều khi mới 26 tuổi. Trong số 10 bị can tại vụ án này, anh Trần Thanh Vân bị bắt giam về tội “giết người”, dù năm 1993 khi xảy ra vụ án vườn điều anh chưa đủ 14 tuổi, chưa phải chịu trách nhiệm hình sự. LS Nguyễn Hồng Hà đã phát hiện việc khởi tố, bắt giam anh Vân là trái pháp luật, làm văn bản kiến nghị Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận phải đình chỉ điều tra bị can, trả tự do cho anh Vân. LS Nguyễn Hồng Hà cũng đã nêu nghi vấn về sự khuất tất trong việc VKSND tỉnh Bình Thuận rút hồ sơ đã chuyển sang TAND tỉnh Bình Thuận, để làm lại cáo trạng vụ án vườn điều. Ngày 20/10/2000, LS Nguyễn Hồng Hà đã có văn bản kiến nghị Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm bản án vụ Huỳnh Văn Nén, để tránh gây oan sai và bỏ lọt tội phạm. 
LS Phạm Thị Kim Anh được những người dự phiên tòa phúc thẩm (lần 1) vụ án vườn điều vỗ tay hoan hô - ảnh của Đặng Ngọc Khoa
          Giai đoạn xét xử phúc thẩm (lần 1 và 2) vụ án vườn điều, người bào chữa cho các bị can là nữ LS Phạm Thị Kim Anh, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương. LS Phạm Thị Kim Anh đã vạch ra nhiều mâu thuẫn đến mức phi lý, “không thể chấp nhận được về mặt khoa học hình sự” trong việc kết tội các bị can. Hội đồng xét xử phúc thẩm (lần 2) vụ án vườn điều đã tuyên hủy bản án sơ thẩm (lần 1) ngày 7/3/2001 của TAND tỉnh Bình Thuận, để điều tra lại từ đầu. LS Kim Anh cũng đã kiến nghị xem xét lại vụ án Huỳnh Văn Nén, vì có dấu hiệu oan sai. Giai đoạn xét xử sơ thẩm (lần 2) và phúc thẩm (lần 3) vụ án vườn điều, LS Phạm Thị Kim Anh không thể tiếp tục bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo, do lý do đặc biệt. Thay thế LS Kim Anh là các LS Phạm Hồng Hải, Trần Vũ Hải, Bùi Đức Trường, Đoàn Luật sư Hà Nội. Đây là giai đoạn có những cuộc tranh tụng nảy lửa giữa các đại diện VKSND giữ quyền công tố tại tòa và các LS. Ngày 11/3/2005, Tòa Phúc thẩm, TAND Tối cao tại TPHCM tuyên hủy toàn bộ bản án sơ thẩm (lần 2), giao toàn bộ hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra lại từ đầu, kiến nghị Cơ quan điều tra Bộ Công An thụ lý điều tra. Ngày 26/12/2005, Cơ quan CSĐT, Bộ Công an ra các quyết định đình chỉ điều tra đối với các bị can trong vụ án vườn điều. Ngay sau đó, các LS kể trên đã cùng ông Nguyễn Thận, cụ Huỳnh Văn Truyện và một số nhà báo khởi động việc minh oan cho ông Huỳnh Văn Nén. Tuy nhiên, các nỗ lực của họ chìm trong “sự im lặng đáng sợ.  
          Tháng 11/2013, cụ Huỳnh Văn Truyện cùng ông Nguyễn Thận ra Hà Nội đưa đơn kiến nghị xem xét lại vụ án Huỳnh Văn Nén đến các cơ quan Trung ương. Các LS Phạm Hồng Hải, Trần Vũ Hải… lại tiếp sức cho họ bằng các hoạt động kêu gọi đại biểu Quốc hội, báo chí và dư luận xã hội quan tâm đến vụ án Huỳnh Văn Nén. Sáng 3/12/2015, ngay sau buổi xin lỗi công khai của ba cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận đối với ông Huỳnh Văn Nén, các luật sư Trần Vũ Hải, Bùi Đức Trường, Bùi Quang Nghiêm, Nguyễn Văn Quynh, Trần Văn Đạt đã cùng bàn những bước tiếp theo để bảo đảm quyền lợi cho ông Nén và đòi hỏi xử lý nghiêm những người gây nên oan sai.

Những người gây nên và làm nặng oan sai

Ông Huỳnh Văn Nén và những người bị oan sai trong vụ án vườn điều đã có các đơn tố cáo, yêu cầu các cơ quan pháp luật xử lý nghiêm khắc, kể cả truy cứu trách nhiệm hình sự những người đã gây oan sai cho họ.
Nguyên đại uý Cao Văn Hùng, điều tra viên (ĐTV) chính vụ án Huỳnh Văn Nén và vụ án vườn điều từng được khen thưởng do thành tích trong hai vụ án này. Khi vụ án vườn điều xảy ra (19/5/1993), anh Trần Thanh Vân chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng ông Hùng vẫn bắt giam Vân, khiến anh bị giam trái pháp luật 287 ngày. Ông Hùng cũng bỏ ngoài hồ sơ lời khai của nhiều nhân chứng về sự ngoại phạm của các bị can Huỳnh Văn Nén, Trần Văn Sáng. Năm 2002, ông Cao Văn Hùng được giao thụ lý vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị một phụ nữ dụ dỗ tiết lộ thông tin, giúp cho bị can Võ Ngọc Phương đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú khi có lệnh bắt. Bị loại khỏi ngành Công an, ông Cao Văn Hùng làm nhân viên Hạt Kiểm lâm Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận). Năm 2014, ông Hùng xin gia nhập Đoàn Luật sư tỉnh Bình Thuận, nhưng không được. Ông Hùng lại xin vào Đoàn luật sư Hà Nội, cũng bị phản ứng quyết liệt. Sau đó, ông Cao Văn Hùng được kết nạp vào Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa, quê của ông. Theo những người bị oan, ông Cao Văn Hùng có dấu hiệu phạm 3 tội hình sự, đó tội “làm sai lệch hồ sơ vụ án”, tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” và tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Ông Cao Văn Hùng tại phiên tòa phúc thẩm (lần 3) vụ án vườn điều, chiều ngày 11/3/2005
Thượng tá Đinh Kỳ Đáp, nguyên Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận, trưởng ban chuyên án vụ bà Lê Thị Bông (vụ án Huỳnh Văn Nén) và vụ án vườn điều. Cuối năm 2006, ông Đinh Kỳ Đáp bị Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh Bình Thuận cảnh cáo về mặt Đảng do đã thiếu kiểm tra, đôn đốc trong quá trình chỉ đạo điều tra về hoạt động của băng nhóm tội phạm Hai Chi ở huyện Hàm Tân.Sau đó, ông Đinh Kỳ Đáp phải nghỉ hưu trước niên hạn. Trong số các sĩ quan công an bị tố cáo và đòi xử lý, có cả Đại tá Nguyễn Kiến Quốc, nguyên Thủ trưởng Cơ quan CSĐT, Công anh tỉnh.
Ông Trần Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Hồng Dung đều là Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Bình Thuận, đã ký hai cáo trạng khác nhau về vụ án vườn điều, cùng mang số 67/KSĐT.TA. Sau này, ông Trần Thanh Hải bị khai trừ Đảng, đình chỉ công tác và cách chức Phó Viện trưởng VKSND Bình Thuận do có liên quan đến băng nhóm xã hội đen Hai Chi, không chỉ đạo điều tra xử lý đến nơi đến chốn nhiều vụ án liên quan đến băng nhóm này và nhận 4.000 USD của Phan Đình Hiển - Phó GĐ Xí nghiệp Sa khoáng Hàm Tân thuộc Cty Phát triển khoáng sản 6 (Lidisaco). Các thẩm phán Nguyễn Ngọc Quang và Trần Thị Ánh Tuyết, những người kết án oan các bị can vụ án vườn điều nay là Chánh án TAND tỉnh Bình Thuận và Chánh tòa Hình sự, TAND tỉnh Bình Thuận.
          “Chúng tôi xin hứa sẽ sớm xem xét, kiểm điểm trách nhiệm của những cá nhân, tập thể đã để xảy ra việc khởi tố, điều tra, truy tố, kết án oan đối với ông Huỳnh Văn Nén theo đúng quy định của pháp luật”. Hy vọng rằng câu này trong bản xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén của các cơ tố tụng tỉnh Bình Thuận sẽ trở thành hành động cụ thể.        
Nguyễn Đình Quân

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

Vụ án vườn điều, Huỳnh Văn Nén và án oan kép - Kỳ 3: Những đứa trẻ vườn điều

 “Lũ trẻ vườn điều”, ảnh của cố nhà báo Đặng Ngọc Khoa, năm 2002       
   “Những đứa trẻ vườn điều” là từ người dân Tân Minh thường dùng để nói về những người con của các bị can trong vụ án vườn điều. Oan sai, tai họa không chỉ giáng xuống cha mẹ họ, mà chính họ cũng phải chịu những mất mát, thiệt thòi, những tổn thương sâu sắc.

Cả ba anh em vướng vòng lao lý

          “Có ai trên đất nước này khổ như tôi không?” Ông Huỳnh Văn Nén nói trong buổi ông được TAND tỉnh Bình Thuận, VKSND tỉnh Bình Thuận và Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận xin lỗi công khai, ngày 3/12. Sau 17 năm 6 tháng 11 ngày oan trái, đến khi được phục hồi danh dự, ông và gia đình vẫn chưa hết nỗi niềm cay đắng.
Năm 1998, ông Huỳnh Văn Nén bị bắt vì bị nghi giết bà Lê Thị Bông, Huỳnh Thành Phát mới 3 tuổi, anh Phát là Huỳnh Thành Lượng mới 7 tuổi, anh đầu Huỳnh Thành Công 9 tuổi. Vợ ông Nén là bà Nguyễn Thị Cẩm cũng bị khởi tố với tội danh “giết người” trong vụ án vườn điều, không nuôi nổi ba đứa con trong khi bà ngoại và hầu hết cô, cậu, dì ruột của họ cũng bị bắt giam. Anh em Công, Lượng, Phát như những con chim non không tổ. Ông Nguyễn Thận, Chủ tịch UBND xã Tân Minh lúc đó (cuối năm 2003 xã Tân Minh được chia tách thành thị trấn Tân Minh, xã Tân Đức và xã Tân Phúc) xin Làng trẻ em SOS Gò Vấp nhận nuôi ba con của bà Cẩm cùng 5 đứa trẻ khác trong đại gia đình bà Cẩm.      
Trở về từ Làng SOS trong khi cha vẫn trong nhà tù, mẹ đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi con, ba anh em Công, Lượng, Phát học hành dở dang và sớm bị lôi kéo chơi bời lêu lổng. Năm 2008 Công đánh nhau, bị tuyên phạt 4 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng. Sắp hết hạn án treo, Công lại vướng vụ khác, án treo thành án giam. Ngày 6/3/2010 bà Cẩm cãi nhau với Th., cháu ông Phó chủ tịch UBND thị trấn Tân Minh, bị Th. chém vào đầu, phải khâu 6 mũi. Bênh mẹ, hôm sau Huỳnh Thành Lượng chém vào chân Th., liền bị bắt giam, sau đó bị kết án 2 năm tù. Hiện nay, Công và Lượng đã tu chí làm ăn, đã có vợ. Khi ông Nén được cho tại ngoại, đầu tháng 11 Lượng dã đưa ông Nén đi chữa mắt tại Thành phố Hồ Chí Minh và đến Cơ quan đại diện báo Tiền Phong tại Thành phố Hồ Chí Minh cảm ơn. Nhưng cậu em út Huỳnh Thành Phát vẫn ham chơi bời, quậy phá, nên có lần Lượng nói với tôi, chuyện nhà Lượng vẫn chông chênh lắm. Cách đây 2 tuần, Phát bị Công an huyện Hàm Tân bắt tạm giam vì tham gia một vụ đánh nhau gây thương tích. 
Anh Huỳnh Thành Lượng khóc khi kể về chuyện nhà mình
Không khá lên được

Trên báo Tiền Phong số ra ngày 2/12, kỳ 2 của loạt bài này đã kể chuyện ông Nguyễn Văn Sơn bật khóc trước phiên tòa phúc thẩm (lần 1) vụ án vườn điều ngày 14/6/2001 vì quá uất ức trước tai họa giáng xuống gia đình mình. Hơn 3 tháng sau khi vọ mất vì tai nạn giao thông, ngày 16/12/1998 ông Sơn bị bắt về tội “giết người”, trong vụ án vườn điều. Ba con trai của ông Sơn là Nguyễn Hữu Lợi (SN 1985), Nguyễn Hữu Lộc (SN 1987), Nguyễn Hữu Lực (SN 1990) bơ vơ không cha không mẹ, bữa đói bữa no. Năm 2002, Lợi và Lực được vào Làng trẻ em SOS Gò Vấp, còn Lộc được một người bà con nuôi. Lợi vốn học rất giỏi, nhưng khi mẹ mất, cha bị bắt Lợi không chịu học nữa, thỉnh thoảng trốn khỏi Làng SOS.
Cuối năm 2004, ông Sơn mãn hạn 6 năm tù, về lại nhà ở ấp 3 (Xuân Hòa, Xuân Lộc, Đồng Nai), đón các con về nuôi. Hiện nay Nguyễn Hữu Lợi và vợ đều làm công nhân ở khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương), có một con trai. Nguyễn Hữu Lợi chưa có vợ, phụ nghề lái xe với ông Sơn. Con út ông Sơn là Nguyễn Hữu Lực lấy vợ ở Củ Chi, làm ruộng, bắt cá sống qua ngày, có một con trai và một con gái. “Nếu em không bị oan vụ án vườn điều thì chắc tụi con em học cũng khá lắm đấy. Từ khi mẹ mất, em bị vậy tụi nó không khá lên được nữa”. Ông Sơn ngậm ngùi nói với tôi trong buổi các cơ quan pháp luật công khai xin lỗi ông Huỳnh Văn Nén, sáng ngày 3/12.  
Trần Thanh Vân là con của hai bị can trong vụ án vườn điều, là bà Nguyễn Thị Nhung và ông Trần Văn Sáng (cha dượng của Vân). Bản thân Vân và anh ruột là Trần Thanh An cũng bị khởi tố, bị bắt giam về tội “giết người” trong vụ án này, dù Vân sinh năm 1979, năm 1993 khi xảy ra vụ án vườn điều chưa đủ 14 tuổi, chưa phải chịu trách nhiệm hình sự. Bị giam gần 10 tháng, đến ngày 20/6/2000 Vân được thả sau khi LS Nguyễn Hồng Hà phát hiện việc khởi tố, bắt giam Vân là trái pháp luật. Mẹ Vân, bà Nguyễn Thị Nhung bị chết ngày 24/2/2001 do bệnh hiểm nghèo nhưng đến nay vẫn chưa chính thức được tuyên vô tội và được đền bù oan sai. Vân đã lấy vợ và có hai con trai, nhưng mới đây gia đình tan vỡ, vợ Vân đi lấy chồng khác, mang theo con trai lớn Trần Đình Khang, 13 tuổi. Vân không có công việc ổn định, sống cùng con trai nhỏ là Trần Vũ Hải, 12 tuổi. “Nói chung hoàn cảnh thiếu mẹ thì không gì tả nổi, giờ lớn nó cũng nguôi ngoai rồi chứ thời đó không tả nổi”. Anh Vân buồn bã nói.
Cha con côi cút Trần Thanh Vân
Trong “những đứa trẻ vườn điều”, 3 con trai của bà Nguyễn Thị Tiến, em út ông Sơn được học hành nhiều nhất. Nhưng hiện nay, không có ai trong số họ sống với bà Tiến. Đầu năm 2000 khi bà Tiến bị bắt giam, ba con trai của bà là Vương Quốc Dũng, Vương Quốc Trí, Vương Quốc Minh mới 10 tuổi, 9 tuổi và 7 tuổi. Chồng bà Tiến bỏ đi lấy vợ khác.  Năm 2002, ba con của bà Tiến được đưa vào Làng trẻ em SOS Gò Vấp. Quốc Trí được một người ở Làng SOS Gò Vấp nhận làm con nuôi, nay làm hướng dẫn viên du lịch. Con út Quốc Minh đã tốt nghiệp ngành khoa học xã hội một trường đại học, nhưng chưa đi làm, và vẫn đang ở Làng SOS Gò Vấp. Quốc Dũng hiện sống với cha.

“Ước mơ con muốn làm luật sư”

          “Khi ba con bị bắt oan, chị em con thiếu vắng cha mẹ, lại thấy luật sư giúp đỡ người bị oan nên trong tâm trí con có suy nghĩ làm luật sư”. Nguyễn Mỹ Dung, con gái ông Nguyễn Văn Tiền, người bị giam 6 năm trong vụ án vườn điều nói với tôi từ Vạn Giã (Khánh Hòa) qua điện thoại. Năm 1998, khi ông Tiền bị bắt, Mỹ Dung 7 tuổi, em trai Dung là Văn Vàng 6 tuổi. Đầu năm 1999, mẹ Dung dắt díu hai con về huyện miền núi Quế Sơn (Quảng Nam). “Con ở với ngoại, học lớp 2, lớp 3, đi làm ruộng, chăn trâu, đến khi đang học lớp 4 thì mẹ bỏ đi, chị em con về lại Tân Minh, cô Lụa (bà Nguyễn Thị Lụa, chị ông Tiền) nuôi”. Dung kể. Lúc đó bà Lụa phải nuôi 5 “đứa trẻ vụ án vườn điều” nữa, không kham nổi nên nhờ ông Nguyễn Thận giúp đưa chúng vào Làng SOS Gò Vấp. Năm 2005, sau khi ông Tiền mãn hạn tù, chị em Dung được ba đón về. Học hết lớp 9 thì Dung nghỉ, đi học nghề tóc, năm 2009 lấp gia đình, chồng ở Hàm Thuận Nam (Bình Thuận), làm phụ xe chở hàng. Mới đây, Dung cùng con trai 6 tuổi ra sống ở thị trấn Vạn Giã (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa).
          “Kỷ niệm buồn nhất của con là lúc ra tòa. Chị em con nhớ ba mà mấy người không cho gặp ba con. Bữa tòa xử (phiên tòa phúc thẩm lần 1 vụ án vườn điều, ngày 14/6/2001), tụi con đến tòa. Lúc xe tù chạy qua cổng, ba có cố đưa mặt ra nhìn, mà xe chạy nhanh, con chỉ nhìn lướt qua, không thấy rõ. Sau này có cô luật sư Phạm Thị Kim Anh đứng ra nói, con mới được vô. Con đứng ở phía sau, rồi con với em con lén đi ra bên hông, lên nhìn mặt ba. Ba cố nhìn chúng con, mà mấy chú cảnh sát dùng roi điện chích vô người ba, không cho nhìn. Đó là lần duy nhất con được nhìn thấy ba, trong 6 năm ba con bị giam”. Trong khi kể chuyện với tôi, Dung hay phải ngưng lại vì khóc. Dung kể, lúc đó cô muốn lên đứng trước tòa nói một câu. “Con muốn nói là gia đình con bị oan, sao lại đối xử với gia đình con như vậy, nhưng con bị đuổi ra, không có cơ hội để nói”                                                                                                                                                          Nguyễn Đình Quân