Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin trong chiến dịch Chủ quyền 1988 Bài 1: Củng cố thế đứng ở Trường Sa

Nói về ngày 14/3/1988, cần nêu đầy đủ các diễn biến ở đá Gạc Ma, đá Len Đao và đá Cô Lin, đặt trong tổng thể Chiến dịch Chủ quyền 1988. Đó là điều cần làm nếu thực sự kính phục, tri ân với những người đã dũng cảm, kiên quyết, hy sinh xương máu để bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.    
 Cố Đô đốc, Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương thăm bộ đội đang xây dựng đảo chìm Tiên Nữ, tháng 5/1988 – ảnh Nguyễn Viết Thái

Trước năm 1978, Hải quân Việt Nam đóng giữ 5 đảo ở quần đảo Trường Sa: Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa.
Đầu năm 1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đá An Nhơn (cồn san hô Lan Can), Malaysia cũng đưa nhiều tàu quân sự đến khu vực Nam quần đảo Trường Sa. Trước tình hình này, Hải quân Việt Nam tổ chức đóng giữ tất cả các đảo nổi còn chưa có lực lượng nào đóng giữ ở quần đảo Trường Sa, là các đảo An Bang (10/3/1978), Sinh Tồn Đông (15/3/1978), Phan Vinh (30/3/1978) và Trường Sa Đông (4/4/1978). Cũng trong tháng 4/1978, một phân đội được đưa ra đóng giữ bãi Thuyền Chài, nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm nên tháng 5/1978 phân đội được rút về đất liền.
Từ cuối năm 1986, Philippines tăng cường lực lượng ở các đảo họ đang chiếm đóng tại quần đảo Trường Sa, tổ chức trinh sát từ đảo Song Tử Tây ở phía Bắc đến bãi Thuyền Chài ở phía Nam. Ngày 31/12/1986, Malaysia chiếm đóng bãi Kỳ Vân ở gần bãi Thuyền Chài, đến tháng 1/1987 họ lại chiếm đóng bãi Kiệu Ngựa, gần bãi Kỳ Vân. Do vậy, ngày 5/31987 Hải quân Việt Nam trở lại đóng giữ đá Thuyền Chài. Đây là bãi đá san hô (đảo chìm) đầu tiên ở Trường Sa được Hải quân Việt Nam đóng giữ. Tổng cộng, đến năm 1987 ta đóng giữ 10 đảo, bãi ở quần đảo Trường Sa, trong đó có 9 đảo nổi.
Ca sĩ Anh Đào, Đoàn ca múa Hải Đăng (Khánh Hòa) đơm cúc áo và hát cho chiến sĩ đảo Phan Vinh, tháng 5/1988 - ảnh Nguyễn Viết Thái

Chiến dịch Chủ quyền 1988

Đến năm 1987, trong số 6 bên 5 nước tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Trung Quốc và Đài Loan Trung Quốc, Bruney), Trung Quốc chưa hiện diện trên một thực thể địa lý nào ở Trường Sa. Theo sách Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam (1955 – 2005), đầu năm 1987 Trung Quốc đưa tàu Hải Dương 4 và một số tàu khác trinh sát quần đảo Trường Sa. Ccuối năm, Trung Quốc đưa thêm nhiều tàu chiến đến khu vực…  
Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương ra nghị quyết, nêu rõ việc bảo vệ chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ khẩn trương, quyết liệt, lâu dài, là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ thị Quân chủng Hải quân tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, đưa lực lượng ra đóng các bãi đá cạn.
Ngày 24/10/1987, Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương ra lệnh lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu thường xuyên sang sẵn sàng chiến đấu tăng cường, đồng thời chỉ thị chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động ra đóng giữ các bãi đá. Toàn Quân chủng Hải quân triển khai Chiến dịch Chủ quyền 1988 (CQ-88). Bộ tư lệnh tiền phương của Quân chủng được thiết lập ở căn cứ Cam Ranh, Tư lệnh Giáp Văn Cương trực tiếp làm Tư lệnh Vùng 4 Hải quân.
Ngày 2/12/1987, quân ta đóng giữ bãi Đá Tây. Ngày 25/1/1988, quân ta đóng giữ đá Tiên Nữ. Ngày 31/1/1988, Trung Quốc đưa 4 tàu hộ vệ tên lửa, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đá Chữ Thập.
Ngày 5/2/1988, quân ta đóng giữ Đá Lát. Ngày 18/2/1988, Trung Quốc chiếm đóng đá Châu Viên. Ngày 19/2/1988 ta đóng giữ Đá Đông, ngày 20/2/1988 ta đóng giữ Đá Lớn.
Ngày 26/2/1988, Trung Quốc chiếm đóng đá Ga Ven. Ngày 27/2/1988, ta đóng giữ đá Tốc Tan. Ngày 28/2/1988, ta đóng giữ thêm đá Núi Le. Cũng ngày này, Trung Quốc chiếm đóng đá Tư Nghĩa (Huy Gơ).
Tại đá Chữ Thập, đá Châu Viên, Đá Lớn, Đá Đông đã có những sự đụng độ quyết liệt, căng thẳng giữa tàu Việt Nam và tàu Trung Quốc, có lúc nòng súng hai bên đã chĩa thẳng vào nhau. “Mình lên Đá Đông rồi, tàu nó cứ quần bên ngoài, chĩa pháo vào mình, trong khi tàu HQ-614 đưa quân mình lên Đá Đông chỉ là tàu vận tải 200 tấn, trang bị vũ khí chỉ có AK, B40, một khẩu 12 ly 7. Lúc đó, trên tàu có cái ống thùng dầu phụ của máy bay để đựng nước, chúng tôi làm giả như tên lửa để nó phải dè chừng”. Đại tá Nguyễn Văn Dân, năm 1988 là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, chỉ huy đóng giữ đảo Đá Đông kể lại.
Nhà cao chân ở bãi Thuyền Chài, tháng 5/1988 - ảnh Lý Bá Lin
Hồi đó tàu mình nhỏ bé, phương tiện liên lạc và chạy tàu đều lạc hậu. Có lần tàu chúng tôi đi tàu giả dạng tàu cá, từ đảo Trường Sa lên Đá Lớn nhưng do la bàn sai lên chạy vào gần Chữ Thập lúc 12 giờ trưa. Đến Đá Lớn rồi chạy sang Nam Yết, lúc mờ sáng thì bị bắn, nhìn lại thấy chạy lạc vào gần Ga Ven.
          Đại tá Nguyễn Văn Dân

Khẩn cấp tiến về Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin

Ngày 18/2/1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân chỉ đạo: “Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không kịp ngăn chặn Trung Quốc mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm”.
          Đúng 6 giờ sáng ngày 14/3/1988 phải đóng giữ được đá Len Đao, đó là nội dung mật lệnh ngày 11/3/1988 của Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương gửi Thuyền trưởng tàu HQ-605, Đại úy Lê Lệnh Sơn. “Tàu chúng tôi là tàu vận tải lớp Đại Khánh 400 tấn, vừa hoàn thành chuyến tiếp vận cho các điểm đảo Tốc Tan, Núi Le, Tiên Nữ… ta mới đóng giữ, đang trên đường về Cam Ranh. Về đến Đá Đông gặp tàu quét mìn, hình như là tàu 852, chúng tôi chuyển hầu hết số nước, lương thực thực phẩm còn lại cho 852, vì nghĩ mình sắp về bờ rồi. Nhưng sau đó, được lệnh quay lại đóng giữ Len Đao”. Thượng úy Uông Xuân Thọ, nguyên máy trưởng tàu HQ-605 kể.
          Cùng ngày 11/3/1988, tàu HQ-604 chở 2 khung nhà cao chân và gần 100 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 83 Công binh Hải quân, Lữ đoàn 146 và Đoàn 6 Hàng hải được lệnh rời Cam Ranh, ra Đá Lớn gặp tàu HQ-505 đang trực ở đó rồi cùng đến đóng giữ đá Gạc Ma và đá Cô Lin, trong đêm 13/3/1988 rạng ngày 14/3/1988.


Chiến sĩ Trường Sa những năm 1990 - ảnh tư liệu
Ngay từ cuối những năm 1970, chúng tôi đã đi đặt bia chủ quyền trên các bãi đá san hô, ở các bia đều có dòng chữ “thuộc nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Để có được mấy chữ đơn giản như vậy, chúng ta đã đổ không biết bao nhiêu xương máu.        
Đại tá Cao Ánh Đăng, nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146, người trực tiếp chỉ huy đóng giữ đảo An Bang, đảo Phan Vinh và đá Thuyền Chài



Thứ Năm, 9 tháng 3, 2017

HÔM NAY, NGÀY TRUYỀN THỐNG ĐẢO AN BANG

Đảo An Bang (Amboyna Cay) thuộc cụm đảo An Bang (cụm Thám Hiểm) ở vĩ độ 07052’00’’ Bắc, kinh độ 112054’30’’ Đông, là đảo ở thấp nhất về phía Nam trong số 21 đảo có Hải quân Việt Nam đóng giữ ở quần đảo Trường Sa (mũi Cà Mau, cực Nam đất liền Việt Nam ở vĩ độ 8030’ Bắc, cao hơn đảo An Bang khoảng 0040’).
Đảo dài khoảng 220m, chỗ rộng nhất khoảng 100m, diện tích khoảng 16.000m2, nằm theo hướng Bắc – Nam trên một rạn san hô hình nấm. Bờ Tây đảo là một dải cát hẹp, bờ Nam có bãi cát xê dịch theo mùa, từ tháng 4 đến tháng 7 được bồi thành bãi cát dài, từ tháng 8 bãi cát này dịch sang bờ phía Đông. Nền san hô quanh đảo rất hẹp, cách xa đảo chưa đầy 1 hải lý, đáy biển đã sâu hàng ngàn mét. Hầu như quanh năm ở đảo An Bang có sóng lớn, ngay cả trong mùa thời tiết thuận lợi nhất, việc lên đảo An Bang vẫn rất khó khăn, khó nhất trong các đảo ở quần đảo Trường Sa.   
Đảo An Bang tháng 4/1979 - ảnh tư liệu
          Năm 1963, chính quyền Sài Gòn đã cho xây bia chủ quyền Việt Nam ở đảo An Bang, nhưng sau đó không tổ chức đóng quân trên đảo. Đầu năm 1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đá An Nhơn (cồn san hô Lan Can, tiếng Anh là Lankiam cay, Philippines gọi là đá Panata), Malaysia cũng đưa nhiều tàu quân sự đến khu vực Nam quần đảo Trường Sa. Quân chủng Hải quân quyết định, phải nhanh chóng đóng giữ tất cả các đảo nổi chưa có lực lượng nào đóng giữ ở quần đảo Trường Sa, là các đảo An Bang, Sinh Tồn Đông, Phan Vinh, Trường Sa Đông.
Đảo An Bang năm 1995 - ảnh tư liệu
          Ngày 10/3/1978, một lực lượng của Trung đoàn 146 (từ ngày 12/2/1979 được nâng cấp thành Lữ đoàn 146), Vùng 4 Hải quân, do Trung đoàn trưởng Cao Ánh Đăng chỉ huy, cùng một phân đội đặc công nước của Lữ đoàn 126, đi trên tàu HQ601 của Lữ đoàn 125 đã ra đóng giữ đảo An Bang. Tháng 11/1978, Hải quân Malaysia đã cho tàu pháo vây ép đảo An Bang liên tục 11 ngày đêm. Nhưng trước thái độ kiên quyết bảo vệ chủ quyền của đơn vị đóng giữ đảo An Bang, đối phương đã phải rút khỏi khu vực.

Đèn biển đảo An Bang được thiết lập năm 1995, độ cao tâm sáng 22,2m, tầm hiệu lực ánh sáng 15 hải lý – ảnh tư liệu

Ở cách đảo Trường Sa 75 hải lý về phía Đông Nam, cách đảo gần nhất là đảo Thuyền Chài 27 hải lý về phía Tây Nam, cách cụm nhà giàn DK1 ở Ba Kè, Vũng Mây… khoảng 70 hải lý về phía Đông, đảo An Bang như cầu nối giữa quần đảo Trường Sa với khu vực nhà giàn DK1 ở thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc. Với vị trí đó, đảo An Bang có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện từ xa, ngăn chặn hoạt động của máy bay quân sự và tàu thuyền nước ngoài xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

HÔM NAY, CHẴN 30 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG ĐẢO THUYỀN CHÀI

 Trong ảnh là điểm C đảo Thuyền Chài, trước kia là điểm A đảo Thuyền Chài, với chiếc pông tông đã hiện diện từ 30 năm trước. 
Sáng ngày 5/3/1987, tàu HQ 961 (Lữ đoàn 125 Hải quân) kéo pông tông số 01 lên đây. Một đơn vị của Lữ đoàn 146 đóng quân trên pông tông này cho đến khi một nhà cao chân được lắp đặt hoàn chỉnh cạnh đó, vài tháng sau. Đá Thuyền Chài là bãi đá san hô đầu tiên trong số 12 bãi đá san hô (đảo chìm) được Hải quân Việt Nam đóng giữ ở quần đảo Trường Sa.

Đảo chìm Thuyền Chài là một rạn san hô (Đá Thuyền Chài, Barque Canada Reef) thuộc cụm đảo An Bang của quần đảo Trường Sa, nằm ở vĩ độ 08 010’ Bắc, kinh độ 113 018’ Đông, cách đảo An Bang khoảng 27 hải lý về phía Đông Bắc, cách đảo Trường Sa khoảng 87 hải lý về phía Đông Đông Nam. Đây là một trong những rạn san hô dài nhất ở quần đảo Trường Sa, chạy dài khoảng 17 hải lý theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. 

Đá Thuyền Chài có hình dạng một chiếc thuyền đánh cá, hai đầu nhỏ, ở giữa phình to, nơi rộng nhất khoảng 3 hải lý, bên trong có một hồ dài khoảng 6 hải lý. 
Sau điểm A (nay là C) ở Đông Bắc đảo Thuyền Chài, Hải quân Việt Nam xây dựng thêm 2 điểm đóng quân trên đảo Thuyền Chài, là Thuyền Chài B ở đầu Tây Nam của đảo và Thuyền Chài C (nay là A) ở đoạn giữa bờ Tây của đảo.

Tết đầu tiên ở đảo chìm đầu tiên 

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2017

Những cái gai ở Trường Sa

     Hiện nay, từ các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn có thể thấy bằng mắt thường những công trình trên đảo Ba Bình và một số bãi đá san hô ở quần đảo Trường Sa bị Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc chiếm đóng trái phép.
          Đảo Ba Bình là đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa, cách đảo Sơn Ca gần 7 hải lý về phía Tây, cách đảo Nam Yết khoảng 11 hải lý về phía Bắc. Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đóng trái phép đảo Ba Bình từ năm 1956.
Cụm đảo Nam Yết ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, với các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Ba Bình

  Đảo Ba Bình, nhìn từ đảo Sơn Ca
Bãi đá Ga Ven ở cách đảo Nam Yết hải lý khoảng 9 hải lý về phía Tây – Tây Bắc, bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép từ tháng 2/1988. Từ năm 2014, Trung Quốc đào xúc san hô, bồi đắp đá Ga Ven thành một đảo nhân tạo và xây dựng trên đó nhiều công trình cao, có thể nhìn thấy từ đảo Nam Yết bằng mắt thường. 
Đá Ga Ven, ảnh chụp từ đảo Nam Yết
          Đá Tư Nghĩa (Huy Ghơ) ở cách đảo Sinh Tồn 12 hải lý về phía Đông, bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép ngày 28/2/1988. Đá Gạc Ma ở cách đảo Sinh Tồn 11 hải lý về phía Nam – Tây Nam, bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép ngày 14/3/1988. Cũng như đá Ga Ven, từ năm 2014 Trung Quốc xây dựng đá Tư Nghĩa và đá Gạc Ma thành đảo nhân tạo, với những công trình có thể nhìn thấy bằng mắt thường từ đảo Sinh Tồn.  
Cụm rạn san hô Sinh Tồn, trong đó có bãi Tư Nghĩa và bãi Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép
Thềm san hô đảo Sinh Tồn và đá Tư Nghĩa
Đá Tư Nghĩa, nhìn qua cánh trái âu tàu đảo Sinh Tồn

Đá Gạc Ma, nhìn từ trường tiểu học Sinh Tồn
Một tàu cá Việt Nam gần đá Tư Nghĩa

AI KHẮC THÊM CHỮ "CỰC ĐÔNG" Ở MỐC TỌA ĐỘ TẠI MŨI ĐIỆN?

Ngày 19/7/2012, tôi đến Mũi Điện và chụp ảnh mốc tọa độ cơ sở biển N18. Ở đây chả có chữ "Cực Đông" nào.

Vậy mà hôm nay, đọc bài của đồng nghiệp Lê Tấn Lộc trên báo Pháp Luật Thành Phố Hồ Chí Minh, thấy mấy vị quan chức Phú Yên nói rằng, ở mốc này có chữ "Cực Đông", đó là căn cứ pháp lý để Phú Yên nói rằng Mũi Điện là cực Đông đất liền Việt Nam. Hay nhỉ, căn cứ pháp lý chỉ là hai chữ "Cực Đông" khắc trên xi măng!

Phú Yên dựng bia "Cực Đông" từ năm 2011, tức là "lấy căn cứ pháp lý" từ cái Mốc tọa độ đó muộn nhất là năm 2011. Nhưng ngày 19/7/2012 tôi còn chụp bức ảnh mốc tọa độ N18 không có chữ "Cực Đông". Vậy ai đã đục thêm hai chữ này lên đó? Đục thêm nhằm mục đích gì?
Đồ giả dễ nhận ra, vì các chữ "Tong Cuc Dia Chinh", "Moc Toa Do Co so Bien" và "Nghiem Cam Pha Hoại" không có dấu, còn anh "Cực Đông" thêm vào lại đầy đủ dấu. 

Nói thêm, như dòng chữ trên mốc tọa độ đã nêu rõ, N18 chỉ là một trong nhiều mốc tọa độ cơ sở biển, được xác lập để làm cơ sở xác định đường cơ sở biển của Việt Nam, không phải để xác định các cực của Việt Nam.


Bổ sung:
Hôm qua, dòm cái ảnh mốc tọa độ cơ sở biển ở Mũi Điện có chữ "Cực Đông" trong bài trên báo PL TPHCM, vì ảnh size nhỏ nên tôi tưởng rằng đó là chữ đục vào xi măng. Hôm nay, vào fb của một bác, thấy cái ảnh size lớn, mới té ra chữ đó là chữ viết. Việc viết thêm vào, chứ không phải đục, khắc càng chứng tỏ cái sự nhận vơ, tùy tiện


Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

Không thể để tiếp tục sự tùy tiện này

Các cơ quan Trung ương, như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông…, cả báo chí nữa rất đáng trách khi không lên tiếng trước việc lãnh đạo tỉnh Phú Yên tùy tiện coi Mũi Điện là cực Đông đất liền Việt Nam, tạo ra tình trạng “hai cực Đông”. 

 Các thế hệ học sinh Việt Nam đều được dạy, điểm cực Đông đất liền Việt Nam là Mũi Đôi, ở bán đảo Hòn Gốm, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Trong bài 2 (Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ), sách giáo khoa Địa lý lớp 12 của NXB Giáo Dục ghi rõ: Điểm cực Đông đất liền Việt Nam nằm ở xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Tháng 3/2005, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận danh thắng Mũi Đôi – Hòn Đầu là di tích danh thắng quốc gia, trong lý lịch di tích ghi rõ “Mũi Đôi (nằm ở 109027’55” kinh độ Đông) là điểm cực Đông trên đất liền của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Tuy nhiên, gần đây một số người ở tỉnh Phú Yên nói rằng Mũi Điện ở xã Hoà Tâm (Đông Hoà, Phú Yên) là cực Đông đất liền Việt Nam. Dịp kỷ niệm 400 năm Phú Yên và nhân Năm Du lịch quốc gia Duyên hải Nam Trung Bộ - Phú Yên 2011, UBND tỉnh Phú Yên đã cho xây dựng trên mỏm Rạng Đông của Mũi Điện một bia lưu niệm lớn, hai mặt bia đều ghi: Mũi Điện (Mũi Đại Lãnh), điểm cực Đông, nơi đón bình minh đầu tiên trên đất liền Việt Nam. Xuất hiện tình trạng nhiễu thông tin, nổ ra những cuộc tranh luận, cực Đông đất liền Việt Nam là ở Mũi Đôi, Khánh Hòa hay Mũi Điện, Phú Yên?
Hiện nay, việc sử hữu một thiết bị xác định tọa độ GPS là chuyện không khó. Nhiều người đã tới cả Mũi Điện và Mũi Đôi, xác định tọa độ GPS của hai địa điểm này để tự kiểm chứng. Họ đều đi tới kết luận, đúng hơn là xác nhận lại một điều đã được khẳng định từ lâu: Cực Đông đất liền Việt Nam ở Mũi Đôi, không phải ở Mũi Điện.  
Cực Đông đất liền Việt Nam chỉ có một mà thôi, đó là Mũi Đôi.
Thế nhưng, lãnh đạo tỉnh Phú Yên vẫn cố bám lấy cái điều sai trái do họ dựng lên. Sáng 1/1/2017, UBND tỉnh Phú Yên tổ chức tại Mũi Điện lễ chào cờ đầu năm mới và “các hoạt động chào đón những du khách đầu tiên đến Mũi Điện - điểm cực Đông trên đất liền Việt Nam năm 2017”.

Các giáo viên Địa lý ở tỉnh Phú Yên dạy bài về Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ Việt Nam thế nào nhỉ, khi theo sách giáo khoa và thực tế Mũi Đôi là cực Đông đất liền Việt Nam, nhưng lãnh đạo tỉnh cứ nói rằng Mũi Điện là cực Đông đất liền Việt Nam?
Việc lãnh đạo tỉnh Phú Yên vì lợi ích cục bộ về du lịch, dựng lên chuyện cực Đông đất liền Việt Nam ở Mũi Điện là điều đáng trách. Đáng trách, đáng phê phán hơn nữa là các Bộ, các cơ quan có trách nhiệm, có thẩm quyền ở Trung ương cứ để mặc sự tùy tiện, gây nhiễu loạn thông tin về địa lý Việt Nam kéo dài nhiều năm trời.   
         


Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

Bốn cây di sản Việt Nam ở Trường Sa

    Những cây di sản rợp bóng trên các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn như những chứng nhân xanh cho sự hiện diện, làm chủ từ lâu nay của người Việt ở quần đảo Trường Sa.  
          Tháng 8/2014, Hội đồng Cây di sản Việt Nam (Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam) đã công nhận 4 cây ở huyện đảo Trường Sa (Khánh Hòa) là cây di sản Việt Nam, đó là một cây phong ba trên đảo Song Tử Tây, hai cây mù u trên đảo Sơn Ca và đảo Sinh Tồn, cây bàng vuông 8 nhánh trên đảo Nam Yết. Theo GS Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội đồng Cây di sản Việt Nam, những cây này đều có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, nguồn gen và cảnh quan môi trường.

Cây phong ba ở sau Sở chỉ huy đảo Song Tử Tây là cây lớn nhất trong hàng chục cây phong ba ở đây
Thầy giáo Lê Xuân Quyết, trường TH Song Tử Tây và các em học sinh bên cây phong ba di sản Việt Nam
Các chiến sĩ cùng nhau đọc sách, đọc thư nhà dưới bóng mát cây phong ba
Cây bàng vuông cổ thụ ở trung tâm đảo Nam Yết có tới 8 nhánh
Khách đến thăm đảo Nam Yết đều thích chụp ảnh kỷ niệm với lính đảo dưới gốc cây bàng vuông 8 nhánh
Thi gói bánh chưng bằng lá bàng vuông, dưới tán cây bàng vuông 8 nhánh
Trong khi phong ba và bàng vuông thuộc những loài cây đặc hữu của Trường Sa, cây mù u là loài cây đặc trưng của vùng Nam Bộ nhưng cũng có nhiều trên các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn… Không rõ mù u được trồng ở các đảo này từ khi nào, nhưng qua chu vi thân cây và diện tích tán cây có thể thấy rằng, nhiều cây mù u có tuổi đã khá cao.
Cây mù u ở công viên thanh niên đảo Sơn Ca là cây mù mu nổi tiếng nhất Trường Sa

Cây mù u này có nhiều nhánh tỏa đều ra các phía, che mát phân nửa công viên thanh niên đảo Sơn Ca
Cây mù u di sản Việt Nam ở đảo Sinh Tồn tỏa bóng mát ngay trước Sở chỉ huy đảo
Gốc cây mù u là nơi lý tưởng để quân, dân đảo Sinh Tồn ngồi trò chuyện, thưởng trà
Chào cờ dưới bóng mù u