Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Trường Sa qua từng bức ảnh - bài 4: Đảo dừa Nam Yết

Đảo Nam Yết được gọi là đảo dừa, có nhiều dừa nhất Trường Sa

Đảo Nam Yết (Namyit Island) ở phần Nam cụm đảo Nam Yết, nằm giữa khu vực có nhiều đảo đang bị nước ngoài chiếm đóng. Đảo nằm ở vĩ độ 10010’45’’ Bắc, kinh độ 114022’00’’ Đông, cách đảo Trường Sa 174 hải lý về phía Đông Bắc, cách đảo Song Tử Tây 76 hải lý về phía Nam, cách Cam Ranh 326 hải lý về phía Đông Nam. Đảo Ba Bình, đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa đang bị Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đóng chỉ cách đảo Nam Yết 11 hải lý về phía Bắc, đá Ga Ven đang bị Trung Quốc chiếm đóng chỉ cách đảo Nam Yết 9 hải lý về phía Tây.
Toàn cảnh đảo Nam Yết, tháng 5/2013

Nằm theo hướng Đông – Tây trên một bãi san hô, đảo Nam Yết có hình bầu dục hơi hẹp bề ngang, dài khoảng 850m, rộng nhất 170m, diện tích đảo nổi khoảng 10,4ha. Thềm san hô quanh đảo rộng 300m - 1.000m tính từ bờ đảo, ở phía Tây ra tới 2.000m. 
Ảnh vệ tinh đảo Nam Yết năm 2006

Nghi thức treo cờ đầu tuần ở đảo Nam Yết

Do ở vị trí chiến lược, tháng 7/1973 đảo Nam Yết được quân đội Việt Nam Cộng hòa chọn là điểm đóng quân đầu tiên tại quần đảo Trường Sa. Cho đến tháng 4/1975, đảo Nam Yết là trung tâm chỉ huy của lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng trên các đảo ở quần đảo Trường Sa, bao gồm các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa. Theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, sau khi đặc công Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng các đảo Song Tử Tây (14/4/1975) và Sơn Ca (25/4/1975), tối 26/4/1975 các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa ở các đảo còn lại tại quần đảo Trường Sa được lệnh rút. Sáng 27/4/1975, quân ta lên đảo Nam Yết.

Luyện tập sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo Nam Yết, năm 1988 – ảnh tư liệu

Bia chủ quyền đảo Nam Yết, năm 1994 – ảnh tư liệu

Bia chủ quyền đảo Nam Yết hiện nay

Từ năm 2010, các công tác chuẩn bị thành lập Khu bảo tồn biển Nam Yết, bao gồm đảo Nam Yết và vùng phụ cận với tổng diện tích khoảng 20.000 ha được xúc tiến. Theo hồ sơ Khu bảo tồn biển Nam Yết, khu vực Nam Yết có hệ sinh thái rạn san hô đặc trưng cho vùng biển quần đảo Trường Sa: cấu trúc kiểu rạn vòng atol, rạn viền bờ điển hình của các đảo nhỏ biển khơi. Rạn san hô ở vùng này có độ phủ khá cao và tương đối đồng đều.
Đèn biển đảo Nam Yết, được đưa vào sử dụng từ tháng 1/2013, với tâm sáng ở độ cao 25m, tầm hiệu lực ánh sáng 15 hải lý

Vùng biển Nam Yết có 246 loài san hô, có 492 loài thực vật và động vật phù du, 86 loài rong, 2 loài cỏ biển, 225 loài động vật đáy, 414 loài cá san hô, 2 loài rùa biển. Có các loài sinh vật biển quý hiếm như bào ngư, tôm hùm, trai tai tượng, hải sâm, ốc anh vũ, nhum đá, vích, đồi mồi... Sinh vật trên cạn có 19 loài thực vật như dừa, mù u, bàng quả vuông, phong ba…, 10 loài chim biển, trong đó đó có những loài không thể tìm thấy ở đâu khác tại Việt Nam, như Hải âu mặt trắng, Chim Điên bụng trắng, Chim Điên chân đỏ, Nhàn Mào, Nhàn trắng.
 
Những cây tra cổ thụ trên đảo Nam Yết

Trong thư viện đảo Nam Yết

Khu vực cầu cảng ở phía Nam đảo Nam Yết đầu năm 2012, vật liệu xây dựng đang được tập kết

Tháng 5/2012, Trung tâm Văn hóa đảo Nam Yết được hoàn thành xây dựng, ở phía Tây cầu cảng

Bệ tượng Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn ở phía Đông cầu cảng cũng đã được xây dựng xong, chờ đón tượng Hưng Đạo Vương

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

Trường Sa qua từng bức ảnh - bài 3: Sơn Ca, đảo xanh


Toàn cảnh đảo Sơn Ca tháng 5/2013

Đảo Sơn Ca (Sand Cay) thuộc cụm đảo Nam Yết (Tizard Bank), ở vĩ độ 10022’42’’ Bắc, kinh độ 114028’33’’ Đông.
          Bia chủ quyền trên đảo Sơn Ca hiện nay  

          Đảo hình bầu dục, hẹp ngang, nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, dài khoảng 450m, rộng chừng 130m, khi thủy triều xuống thấp nhất đảo cao khoảng 3,5m-3,8m, diện tích tự nhiên khoảng 0,05km2. Cách bờ Đông Bắc của đảo khoảng 300m có một cồn cát cao, xê dịch theo mùa gió.
                                        Ảnh vệ tinh Đảo Sơn Ca năm 2004 
   Mặt đảo bằng phẳng, thổ nhưỡng là cát san hô được phủ một lớp phân chim. Bênh cạnh những cây bản địa Trường Sa như phong ba, bão táp, bàng vuông, tra, đảo Sơn Ca còn có nhiều cây xoài biển, mù u, vốn chỉ có ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vài năm gần đây, một số giống cây ăn quả như ổi, na, mít… được mang ra trồng tại đảo. Ở vùng biển quanh năm có gió mạnh, nhưng do được nhiều cây lớn che chắn, rau xanh ở Sơn Ca phát triển rất tốt.
Cây mù u tỏa bóng rợp mát ở công viên thanh niên, đảo Sơn Ca

Cây ớt “cổ thụ” của phân đội hỏa lực, đảo Sơn Ca

Tháng 7/1973, quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ đảo Nam Yết. Đầu năm 1974, quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ đảo Sơn Sa, cùng với các đảo Song Tử Tây, Sinh Tồn, Trường Sa. Rạng sáng ngày 25/4/1975, đặc công hải quân đi trên tàu 641 của Lữ đoàn 125 Hải quân giải phóng đảo Sơn Ca.
Kéo cờ lên đảo Sơn Ca vừa được giải phóng, tháng 4/1975 – ảnh tư liệu

Đảo Sơn Ca năm 1975 – ảnh tư liệu  

Cũng như các đảo Nam Yết, Đá Thị trong cụm đảo Nam Yết, đảo Sơn Ca nằm trong khu vực có nhiều bên chiếm đóng xen kẽ nhất ở quần đảo Trường Sa. Cách đảo Sơn Ca 7 hải lý về phía Tây là đảo Ba Bình (Itu Aba island), đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa, đang bị Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đóng. Về phía Bắc, có hai đảo đang bị Philippines chiếm đóng là đảo Loại Ta (Loaita island, cách đảo Sơn Ca 19 hải lý) và bãi san hô Lan Can (Lamkian cay, cách đảo Sơn Ca 22 hải lý). Cách đảo Sơn Ca 18 hải lý về phía Tây Nam là đá Ga Ven (Gaven reef) đang bị Trung Quốc chiếm đóng. Gần đảo Sơn Ca còn có các bãi san hô đang bị một số nước tìm cách kiểm soát, như bãi Bàn Than (Banthan reef, giữa đảo Sơn Ca và đảo Ba Bình), bãi Én Đất (Eldad reef, cách đảo Sơn Ca 14 hải lý về phía  Đông)…
Bản đồ khu vực đảo Sơn Ca, Nam Yết… 

Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương và Chính ủy Quân chủng Hải quân Hoàng Trà đến thăm đảo Sơn Ca, tháng 5/1978 – ảnh tư liệu

Luôn sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xấu có thể xảy ra, nhưng quân dân đảo Sơn Ca vẫn xây dựng đảo ngày càng xanh, đẹp. Để dẫn luồng hàng hải và góp phần khẳng định chủ quyền Việt Nam, đèn biển đảo Sơn Ca được hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng từ tháng 11/2009, với tâm sáng ở độ cao 25,5m, tầm hiệu lực ánh sáng 15 hải lý.
Mộ liệt sĩ và đèn biển trên đảo Sơn Ca

 Hiện nay, đảo Sơn Ca được đánh giá là một trong những đảo có cảnh quan, môi trường xanh, sạch, đẹp nhất ở huyện đảo Trường Sa.
          Một góc phía Tây Bắc đảo Sơn Ca

         Đường ven đảo Son Ca


          Nguyễn Đình Quân 

Thứ Bảy, 7 tháng 12, 2013

Trường Sa qua từng bức ảnh - bài 2: Song Tử Tây, đảo tiền tiêu phía Bắc

Đảo Song Tử Tây, nhìn từ phía Tây Bắc

Đảo Song Tử Tây (Southwest Cay) nằm ở vĩ độ 11025’55 Bắc, kinh độ 114018'00’’ Đông, là đảo ở cao nhất về phía Bắc trong số các đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang được Việt Nam quản lý (trong loạt bài này, tọa độ các đảo ghi theo thông tin ở bia chủ quyền tại đảo, với các đảo có 2 hoặc 3 điểm đóng quân, ghi theo thông tin trên bia chủ quyền điểm A). Cách đảo Song Tử Tây khoảng 2 hải lý về phía Đông Bắc là đảo Song Tử Đông, đang bị Philippines chiếm đóng.
Đảo Song Tử Tây năm 1995 – ảnh tư liệu
Ảnh vệ tinh đảo Song Tử Tây năm 2005
Đảo có hình bầu dục theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, dài khoảng 630m, rộng 270m, khi thủy triều xuống thấp nhất, mặt đảo cao 4m-6m so với mặt biển, diện tích (tự nhiên) khoảng 12 ha, là đảo lớn thứ sáu tại quần đảo Trường Sa, lớn thứ hai trong các đảo do Việt Nam quản lý, sau đảo Trường Sa. UBND xã Song Tử Tây, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa đặt trụ sở tại đảo Song Tử Tây.
Cổng chùa Song Tử Tây

Thổ nhưỡng trên đảo chủ yếu là cát san hô pha với xác lá cây phân hủy, tạo thành lớp mùn khá màu mỡ, thuận lợi cho cây cối phát triển. Dưới mặt đất khoảng 2m có nước ngầm, có thể tắm giặt, tưới cây. Đây là đảo duy nhất ở Trường Sa nuôi được bò.  
Trạm Khí tượng thủy văn trên đảo Song Tử Tây

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tổ chức dựng bia chủ quyền Việt Nam trên đảo Song Tử Tây từ tháng 8/1956, nhưng đến đầu năm 1974 mới cho quân đóng giữ đảo Song Tử Tây.
Bia chủ quyền Việt Nam trên đảo Song Tử Tây được dựng năm 1956

Cán bộ, chiến sĩ tàu 621 (thuộc Đoàn 125 Hải quân) chụp ảnh lưu niệm tại đảo Song Tử Tây năm 1972, trong chuyến đi trinh sát đường Hồ Chí Minh trên biển – ảnh tư liệu
Máy bay SU30-MK của Trung đoàn Không quân 935 bay tuần tra tại đảo Song Tử Tây, ngày 28/4/2013 
“Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”. Đó là nội dung mật lệnh ngày 7/4/1975 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng ít người biết rằng, 3 ngày truớc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi một mật lệnh chỉ đạo “chiến dịch Hồ Chí Minh trên biển”, giải phóng quần đảo Trường Sa.
Tháng 3/1975, trong lúc cuộc Tổng tấn công mùa xuân giải phóng miền Nam liên tiếp giành được thắng lợi, với tầm nhìn chiến lược, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Quân ủy Trung ương vẫn theo dõi sát sao tình hình ở biển Đông, nhận thấy một số nước ngoài có ý đồ thừa lúc quân đội Sài Gòn đang lao đao, để xâm chiếm các đảo ở Trường Sa. Lúc 17 giờ 30 phút ngày 4/4/975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi lãnh đạo Quân khu 5 và Quân chủng Hải quân mật lệnh số 990B/TK: "Nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhanh nhất, đánh chiếm các đảo do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng".     
 Ngày 11/4/1975, một phân đội của Đoàn 126 đặc công Hải quân, được tăng cường lực lượng của Tiểu đoàn 471 đặc công Quân khu 5, do Trung tá Mai Năng, Đoàn trưởng Đoàn 126 chỉ huy hành quân ra Trường Sa, trên 3 tàu vận tải của Đoàn 125 hải quân, giả dạng tàu cá Hồng Công. Với phương châm “thần tốc, táo bạo, bí mật, bất ngờ”, sáng 14/4 quân ta giải phóng đảo Song Tử Tây sau 45 phút nổ súng, mở màn chiến dịch giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do quân đội Sài Gòn đóng giữ.
Truy điệu liệt sĩ Tống Văn Quang, hy sinh ngày 14/4/1975 khi chiến đấu giải phóng đảo Song Tử Tây, là liệt sĩ đầu tiên hy sinh ở Trường Sa – ảnh tư liệu

Ngày nay, đảo Song Tử Tây là một căn cứ tiền tiêu của Hải quân Việt Nam, sẵn sàng phát hiện và ngăn chặn các hoạt động của nước ngoài xâm phạm chủ quyền biển đảo của Tổ quốc ở phía Bắc quần đảo Trường Sa. Năm 1999, tập thể đảo Song Tử Tây được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Quân dân đảo Song Tử Tây biểu diễn văn nghệ ngày 28/4/2013, kỷ niệm 38 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 

 Đảo Song Tử Tây cũng là nơi sinh sống của nhiều hộ dân, có nhiều công trình dân sự, văn hóa như đèn biển, chùa, trạm khí tượng thủy văn, nhà khách…
Tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tại đảo Song Tử Tây, được khánh thành ngày 6/5/2012. Phía sau là đèn biển Song Tử Tây, được đưa vào sử dụng từ tháng 10/1993, là ngọn đèn biển đầu tiên trên quần đảo Trường Sa.    

Xây dựng âu tàu đảo Song Tử Tây, năm 2008 – ảnh tư liệu

Tháng 4/2009, âu tàu Song Tử Tây được hoàn thành xây dựng, đưa vào sử dụng, là nơi cung cấp nhiên liệu, nước ngọt, lương thực thực phẩm, dịch vụ y tế và cứu hộ, cứu nạn, sửa chữa tàu thuyền…, nơi tránh trú bão an toàn cho tàu của ngư dân khai thác thủy sản xa bờ.
  

Ngư dân huyện Hoài Nhơn, Bình Định vào trú bão ở âu tàu đảo Song Tử Tây, tháng 12/2011

Phía Đông Bắc đảo Song Tử Tây, năm 1995 – ảnh Viết Hiền
Phía Đông Bắc đảo Song Tử Tây, năm 2013 

                                                       Nguyễn Đình Quân

Trường Sa qua từng bức ảnh - bài 1: http://thiemthu62.blogspot.com/2013/12/truong-sa-qua-tung-buc-anh_6.html

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

Trường Sa qua từng bức ảnh

Những anh công binh ngâm mình dưới nước, vác đá xây đảo chìm, những nụ cười hồn nhiên của các em bé, những bãi san hô khô cằn trở thành đảo xanh mát bóng cây… Loạt bài của Nguyễn Đình Quân, phóng viên báo Tiền Phong, giới thiệu hình ảnh về sự đổi thay, ngày càng to đẹp hơn của tất cả 21 đảo ở quần đảo Trường Sa đang do Việt Nam quản lý, từ những ngày đầu được Hải quân ta đóng giữ cho đến nay.  

Bài 1:
TỔNG QUAN VỀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

Cờ truyền thống Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân, đơn vị trực tiếp bảo vệ các đảo ở quần đảo Trường Sa – ảnh Nguyễn Đình Quân 
Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) bao gồm hơn 100 đảo san hô (island), cồn cát san hô (cay), bãi đá san hô (shoal) và rạn san hô (reef) ở giữa biển Đông, từ vĩ độ 6012' Bắc đến vĩ độ 12000' Bắc và từ kinh độ 111030' Đông đến 117030' Đông, trên diện tích khoảng 160.000 km² - 180.000 km². Khoảng cách từ đảo Trường Sa đến Cam Ranh khoảng 245 hải lý, đến Vũng Tàu khoảng 295 hải lý, đến vùng biển Malaysia khoảng 250 hải lý, đến vùng biển Bruney khoảng 320 hải lý, đến vùng biển Philippines khoảng 210 hải lý, đến đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 600 hải lý, đến đảo Đài Loan (Trung Quốc) khoảng 900 hải lý.  
Bản đồ khu vực quần đảo Trường Sa  
Các đảo nổi của quần đảo Trường Sa tương đối bằng phẳng và thấp, tổng diện tích khoảng 5 km2. Các bãi san hô thường trũng ở giữa tạo thành các hồ, sâu từ 5m đến 40m, nước trong hồ khá tĩnh lặng do không bị tác động trực tiếp của sóng và dòng chảy bên ngoài. Bên ngoài thềm san hô, đáy biển có độ dốc lớn, có nơi sâu hơn 3.000 m.  
 
Chiến sĩ Trường Sa, những năm 1980 – ảnh tư liệu 
Mùa khô ở quần đảo Trường Sa từ tháng 2 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa hàng năm từ 1.800 đến 2.500 mm. Hàng năm, có khoảng 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, chủ yếu từ tháng 11 đến tháng 1, 2 năm sau. Vùng biển Trường Sa nhiều giông, tố, tháng nào cũng có, từ tháng 1 đến tháng 3 số ngày có giông ít hơn. 
Tàu của ngư dân Quảng Ngãi bên đảo Song Tử Tây – ảnh Nguyễn Đình Quân 
Theo cấu trúc địa chất, thủy văn và khoảng cách giữa các đảo, Việt Nam chia quần đảo Trường Sa thành tám cụm. 
Cụm Song Tử ở phần Tây Bắc của quần đảo Trường Sa, gồm đảo Song Tử Đông, đảo Song Tử Tây, hợp cùng các rạn đá san hô như đá Nam, đá Bắc… tạo nên một rạn san hô dạng vòng lớn là North Danger Reef.
Ảnh vệ tinh cụm đảo Song Tử
Cụm Thị Tứ ở phía nam của cụm Song Tử, có một đảo san hô là Thị Tứ và các rạn san hô như đá Hoài Ân, đá Vĩnh Hảo, đá Xu Bi... Cụm Loại Ta ở phía nam của cụm Thị Tứ, có hai đảo lớn là Loại Ta và Bến Lạc. 
Điểm B, đảo Đá Lớn – ảnh Nguyễn Đình Quân 
Cụm Nam Yết ở phía nam cụm Loại Ta, gồm các đảo nổi như đảo Ba Bình (lớn nhất quần đảo), đảo Nam Yết, đảo Sơn Ca, một số bãi san hô hợp thành rạn san hô dạng vòng Tizard Bank, đảo Đá Lớn…
Ảnh vệ tinh cụm đảo Nam Yết 
Cụm Sinh Tồn ở phía nam cụm Nam Yết, gồm đảo Sinh Tồn, đảo Sinh Tồn Đông và nhiều rạn san hô như đá Cô Lin, đá Gạc Ma, đá Len Đao, đá Ba Đầu…, hợp thành rạn san hô Union Bank.
Ảnh vệ tinh cụm đảo Sinh Tồn
Cụm Trường Sa ở phía nam của cụm Sinh Tồn, nằm ngang từ Tây sang Đông giữa hai vĩ tuyến 80 Bắc và 90 Bắc. Cụm này chỉ có một đảo san hô là đảo Trường Sa, còn lại là các rạn san hô như Đá Tây, đá Tiên Nữ, đảo Phan Vinh, đảo Trườngsa Đông... 
Toàn cảnh đảo Trường Sa – ảnh Nguyễn Đình Quân 
Cụm Thám Hiểm (cụm An Bang) ở phần phía nam của quần đảo Trường Sa, có các bãi Sác Lốt, đá Công Đo, cồn cát An Bang… 
Khu dân cư đảo Sinh Tồn – ảnh Nguyễn Đình Quân 
Cụm Bình Nguyên ở phần phía đông của quần đảo Trường Sa, trong đó có đảo Vĩnh Viễn và đảo Bình Nguyên. 
Ông Hồ Ngọc Nhường, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Khánh (cũ) và lãnh đạo Quân chủng Hải quân tham gia bầu cử HĐND huyện Trường Sa khóa I tại đảo Nam Yết, tháng 4/1983 - ảnh tư liệu
 
Lễ thành lập UBND huyện Trường Sa, năm 1983 - ảnh tư liệu
Hiện nay, quần đảo Trường Sa thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. Hải quân Việt Nam đang đóng giữ 21 đảo và bãi san hô ở quần đảo Trường Sa, gồm 9 đảo san hô và cồn cát san hô (gọi chung là đảo nổi), 12 bãi đá san hô và rạn san hô (gọi chung là đảo chìm), với 33 điểm đóng quân. 
Chiến sĩ Trường Sa, những năm 1990 - ảnh tư liệu

Trước giờ từ Cam Ranh ra Trường Sa làm nhiệm vụ, tháng 12/2008 - ảnh Nguyễn Đình Quân 
Theo tài liệu của Ủy ban Biên giới quốc gia Việt Nam, Trung Quốc đang chiếm đóng 7 bãi san hô tại quần đảo Trường Sa, Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đóng đảo lớn nhất trong quần đảo là đảo Ba Bình, Philippines đang chiếm đóng 9 đảo, bãi, Malaysia đang chiếm đóng 5 đảo, bãi trong quần đảo, Bruney có yêu sách chủ quyền với một phần vùng biển quần đảo Trường Sa.
 Đảo Sinh Tồn Đông – ảnh Nguyễn Đình Quân 

                                                                                                                            Nguyễn Đình Quân

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Công lý sẽ không ngoảnh mặt đi - bài 2

ĐỦ ĐIỀU KIỆN GIÁM ĐỐC THẨM HOẶC TÁI THẨM


Vừa có sai phạm nghiêm trọng về tố tụng trong phiên tòa, vừa có tình tiết mới về thủ phạm của vụ án, nên vụ án bà Bông bị giết đủ cả điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm lẫn điều kiện để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. LS Trần Vũ Hải nói.

 Ngày 26/8/2000, trước phiên tòa xét xử Huỳnh Văn Nén về tội giết bà Lê Thị Bông 5 ngày, một phạm nhân tại trại Sông Cái (Ninh Thuận) là Nguyễn Phúc Thành (sinh năm 1979, trú thôn 2, Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) tố cáo, Nguyễn Thọ (Chín điếc) và Hồ Văn Việt, cùng ở xã Tân Minh mới là thủ phạm giết bà Bông.
Nguyễn Phúc Thành (bên phải) cần được coi là nhân chứng trực tiếp của vụ án bà Bông
Theo Thành, tháng 4/1998 anh ta được Thọ và Việt kể chuyện giết bà Bông và rủ đi bán 1 chỉ vàng lấy được, nhưng do là bạn bè nên Thành không tố giác họ. Đến khi biết tin Huỳnh Văn Nén có thể bị phạt tử hình về tội giết bà Bông, Thành mới quyết định tố giác thủ phạm thực sự. Trung tá Phạm Văn Phóng, Giám thị trưởng trại Sông Cái cho biết, ngày 26/8/2000 đã gửi đơn tố cáo của Thành về Cục V26, Bộ Công an.

Sự im lặng đáng sợ

Ngày 16/9/2000, cụ Huỳnh Văn Truyện, cha của Huỳnh Văn Nén có đơn cầu cứu khẩn cấp, gửi lãnh đạo các cơ quan pháp luật Trung ương và tỉnh Bình Thuận. Cụ cho biết, ngày 11/9/2000 cụ từ Cà Mau ra Trại tạm giam, Công an tỉnh Bình thuận xin gặp Nén, nhưng bị từ chối. Biết tin có người tố cáo thủ phạm giết bà Bông không phải là Nén, ngày 15/9/2000 cụ Truyện lại đến Trại tạm giam, Công an Bình Thuận xin gặp Giám thị để trao đổi về việc kháng án sơ thẩm. Hôm đó là hạn chót để anh Nén làm đơn kháng án, nhưng cán bộ trực ban Trại không đi báo cho Giám thị về việc cụ Truyện xin gặp, chỉ nói rằng, lẽ ra anh Nén phải chịu án tử hình, được hưởng án chung thân là tốt rồi… Cụ Truyện đề nghị các cơ quan có thẩm quyền kháng nghị, cho điều tra lại vụ án.
Ngày 20/10/2000, LS Nguyễn Hồng Hà, Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa, người bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm “vụ án vườn điều” có đơn, đề nghị Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm bán án vụ bà Bông, để điều tra lại từ đầu cho bảo đảm khách quan công minh, tránh sai lầm dẫn đến khả năng gây oan sai cho công dân và bỏ lọt tội phạm.
Ngày 2/7/2001, báo Tiền Phong đăng bài “Những câu hỏi quanh vụ bà Bông bị giết”, ngày 11/4/2006 báo Tiền Phong đăng bài “Hậu “vụ án vườn điều” – Huỳnh Văn Nén bị oan”, nêu những sự thiếu thuyết phục trong việc kết tội Huỳnh Văn Nén. Các bài báo này đặt câu hỏi về việc, cuối năm 2000 Công an tỉnh Bình Thuận cử Đại uý Cao Văn Hùng đi xác minh đơn tố cáo Thọ và Việt của Nguyễn Phúc Thành. Ông Cao Văn Hùng là điều tra viên chính vụ bà Bông và “vụ án vườn điều”. Một người được khen thưởng về “thành tích” phá 2 vụ trọng án, sao có thể khách quan khi xác minh đơn tố cáo rằng sự thật của 2 vụ án đó không như ông ta đã điều tra?
Ngày 4/4/2006, các LS Phạm Hồng Hải, Trần Vũ Hải, Bùi Đức Trường thuộc Đoàn Luật sư Hà Nội, bào chữa miễn phí cho các bị cáo tại “vụ án vườn điều” có đơn gửi lãnh đạo các cơ quan pháp luật Trung ương và tỉnh Bình Thuận, ông Trương Vĩnh Trọng – Trưởng Ban Nội chính Trung ương. Ba luật sư kiến nghị các cơ quan pháp luật xem xét lại toàn bộ chứng cứ trong vụ án giết bà Lê Thị Bông, để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án, đồng thời tạo điều kiện cho các luật sư được tiếp cận hồ sơ vụ án. Trước đó, con gái bà Bông là chị Phạm Thị Hồng có đơn yêu cầu làm rõ thủ phạm giết mẹ mình, vì theo chị Hồng, Huỳnh Văn Nén không phải là thủ phạm.
Chị Phạm Thị Hồng, con gái bà Bông không tin Huỳnh Văn Nén là thủ phạm
Tuy nhiên, tất cả các đề nghị, thỉnh cầu trên đều không được hồi âm. Đến nay, Huỳnh Văn Nén đã ở trong tù hơn 15 năm 6 tháng. Theo cụ Truyện, không hiểu sao con trai cụ không được xét ân xá, giảm án.

Cầm cố đất kêu oan cho con

Ngày 20/11, cụ Truyện cầm cố 6 công đất ở xã Thới Bình (Thới Bình, Cà Mau), cùng ông Nguyễn Thận, nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Minh trong thời gian xảy ra vụ bà Bông bị giết và “vụ án vườn điều”, hiện là Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện Hàm Tân (Bình Thuận) ra Hà Nội. Cụ Truyện đã đến trụ sở TAND Tối cao và trụ sở VKSND Tối cao, nộp đơn kêu oan cho anh Huỳnh Văn Nén. “Làm người cha có con bị tù oan vì tội giết người, đau đớn lắm. Còn sống ngày nào, tôi còn đi kêu oan ngày ấy. Tôi có nguyện ước, trước khi nhắm mắt xuôi tay, vụ án bà Bông được kháng nghị và tái thẩm”. Cụ Truyện nói, khi gặp phóng viên báo Tiền Phong.
 Cụ Huỳnh Văn Truyện (bên trái) và ông Nguyễn Thận gặp phóng viên báo Tiền Phong 
Dư luận nhân dân địa phương hiện nay vẫn còn hoài nghi, ai đã giết bà Lê Thị Bông, bản án chung thân cho Huỳnh Văn Nén có đúng người đúng tội, Nén có bị oan không? Ông Nguyễn Thận nói. Ông cũng đã có đơn kiến nghị gửi TAND Tối cao, VKSND Tối cao, đề nghị làm rõ những vấn đề mà dư luận nhân dân Tân Minh quan tâm. Đồng thời, LS Trần Vũ Hải và LS Phạm Hồng Hải đã nhận tư vấn pháp lý miễn phí cho gia đình anh Huỳnh Văn Nén. Trước mắt, hai LS đề nghị TAND Tối cao và TAND tỉnh Bình Thuận cho phép họ tiếp cận hồ sơ vụ án bà Bông, đề nghị VKSND Tối cao tiếp cận ngay nhân chứng Nguyễn Phúc Thành và ông Nguyễn Thận, để xác minh những đơn thư mà các công dân này gửi đến các cơ quan pháp luật.

TAND tỉnh Bình Thuận đã vi phạm quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự “không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”. Việc không so sánh dấu chân của Huỳnh Văn Nén với dấu chân tại hiện trường vụ bà Bông bị giết, cũng như đánh giá khả năng dấu chân để lại của ít nhất hai người đã bỏ lọt chứng cứ có thể kết tội hoặc khẳng định Nén vôi tội. Trước ngày xét xử 5 ngày, Trại giam Sông Cái đã thông báo cho các cơ quan pháp luật về việc Nguyễn Phúc Thành tố giác người trực tiếp giết bà Bông là Nguyễn Thọ và Hồ Văn Việt. Việc các cơ quan tố tụng tỉnh Bình Thuận không dừng xét xử, tiến hành xác minh làm rõ tình tiết này là sai phạm nghiêm trọng về tố tụng.
LS Trần Vũ Hải  

                                                                                                            Nguyễn Đình Quân 
Bài 1 - Hai án giết người http://thiemthu62.blogspot.com/2013/12/cong-ly-se-khong-ngoanh-mat-i.html 

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Công lý sẽ không ngoảnh mặt đi

Bài viết không lên mặt báo được. Đăng lên đây, như một lời tạ lỗi với cụ Huỳnh Văn Truyện, vì đã không làm được điều tốt nhất mà cụ gửi gắm, trông cậy. Đăng lên đây, để thêm một tiếng nói, một tiếng kêu, cho công lý thôi ngoảnh mặt với vụ án này.

Bài 1: HAI ÁN GIẾT NGƯỜI

          “Làm người cha có con bị tù oan vì tội giết người, đau đớn lắm. Còn sống ngày nào, tôi còn đi kêu oan ngày ấy”. Vừa cầm cố 6 công đất để có tiền từ huyện Thới Bình (Cà Mau) ra Hà Nội kêu oan cho con trai Huỳnh Văn Nén, cụ Huỳnh Văn Truyện, nay đã 89 tuổi nói.

Đêm 23/4/1998, bà Lê Thị Bông ở thôn 2 (xã Tân Minh, nay là thị trấn Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) bị xiết cổ chết. Ngày17/5/1998, cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận bắt tạm giam Huỳnh Văn Nén (sinh năm 1962, quê Cà Mau, trú tại thôn 2, Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) vì nghi Nén là thủ phạm giết bà Bông. Trong trại tạm giam, Huỳnh Văn Nén khai nhận tội giết bà Bông để cướp chiếc nhẫn 1 chỉ vàng. Mấy tháng sau, anh ta khai thêm, đã cùng nhiều người của gia đình vợ giết bà Dương Thị Mỹ ở cùng thôn, đêm 18/5/1993. Từ lời khai này, ngày 2/12/1998 cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Bình Thuận phục hồi điều tra vụ bà Mỹ bị giết, khởi tố Huỳnh Văn Nén, vợ anh ta là Nguyễn Thị Cẩm, mẹ vợ anh ta là Nguyễn Thị Lâm và 7 nguời con, cháu của bà Lâm, tổng cộng 10 người. Vụ án đó, sau này nổi tiếng với tên gọi “vụ án vườn điều”.
Ngày 31/8/2000, TAND tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm vụ án bà Bông bị giết. Tòa nhận định, bị cáo Huỳnh Văn Nén là tội phạm cực kỳ nguy hiểm, mối hiểm họa cho lương dân, tuy nhiên bị cáo đã có công khai báo về vụ bà Dương Thị Mỹ bị giết. Tòa tuyên phạt Huỳnh Văn Nén mức án tù chung thân về tội giết người.
Ngày 7/3/2001, TAND tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm “vụ án vườn điều’. Trước đó, bị cáo Nguyễn Thị Nhung, chị ruột vợ Huỳnh Văn Nén đã chết đêm 24/2/2001, do bệnh hiểm nghèo. Tòa tuyên án phạt tù giam từ 2 năm đến 10 năm về tội “giết người” đối với 5 bị cáo, trong đó Huỳnh Văn Nén bị phạt 6 năm tù. Huỳnh Văn Nén không kháng án đối với cả hai bản án.

Bị oan trong “vụ án vườn điều’
 Ngày 14/6/2001, Toà Phúc thẩm, TAND Tối cao tại TPHCM xét xử phúc thẩm (lần 1) “vụ án vườn điều’. Tại đây, Huỳnh Văn Nén phản cung, nói rằng những lời anh ta nhận tội và khai báo về hành vi phạm tội của những người khác là do bị đánh, bị bức cung, thực tế Nén hoàn toàn không biết gì về vụ bà Mỹ bị giết. Khi xảy ra “vụ án vườn điều’, Nén không ở Tân Minh mà đang làm thuê tại “ Căn cứ 4” (xã Xuân Hoà, Xuân Lộc, Đồng Nai). Trong trại giam, khi kiểm sát viên VKSND tỉnh Bình Thuận phúc cung, Nén kêu oan nhưng vẫn bị buộc tội. Tại phiên toà sơ thẩm Nén vẫn khai nhận tội và sau đó không kháng án, vì không hy vọng được giải oan, sợ bị đánh tiếp. Phiên tòa phúc thẩm (lần 1) “vụ án vườn điều” phải tạm hoãn… 
 Huỳnh Văn Nén tại phiên tòa ngày 14/6/2001
Từ ngày 9/3/2005 đến ngày 11/3/2005, Toà Phúc thẩm, TAND Tối cao tại TPHCM xét xử phúc thẩm (lần 3) “vụ án vườn điều”, tuyên hủy  toàn bộ bản án sơ thẩm (lần 2), giao toàn bộ hồ sơ cho cấp sơ thẩm điều tra lại từ đầu, kiến nghị Bộ Công An thụ lý điều tra.
Tháng 12/2005, Cơ quan điều tra Bộ Công an và  VKSND Tối cao công bố kết quả phục hồi điều tra “vụ án vườn điều”, theo đó không có đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị can, bị cáo. Sau đó, các bị cáo trong vụ án này đã được đình chỉ điều tra bị can, được các cơ quan pháp luật xin lỗi công khai và được bồi thường oan sai. Riêng Huỳnh Văn Nén không được bồi thường oan sai trong “vụ án vườn điều”, tiếp tục thụ án tù chung thân tại vụ án bà Bông.

Kết án chỉ dựa vào lời khai nhận tội

          Theo biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 24/4/1998, hai bên hàng rào giữa nhà bà Bông và chùa Thạch Long có hai con dao, nhưng trong quá trình khám nghiệm, con dao nằm phía ngoài hàng rào đã bị mất? Ở hiên nhà bà Bông có một dấu bàn chân phải không dép in hằn trên cát, kích thước 23 x 9 cm, gót rộng 4,5 cm. Trên ghế sa lông trong nhà có 3 dấu chân không dép, kích thước 22 x 8,5 cm, gót rộng 4 cm. Nhưng việc điều tra sau đó không cho biết 3 dấu chân trên sa lông là dấu chân phải hay dấu chân trái, 4 dấu chân là của một người hay của hai người khác nhau, có dấu chân nào trùng hợp với dấu chân của Huỳnh Văn Nén hay không? Theo kết luận điều tra, Nén khai, anh ta dùng một sợi dây dù để xiết cổ bà Bông, sau đó ném bỏ bên đường mòn khi bỏ chạy khỏi hiện trường. Nhưng sợi dây được coi là tang vật được tìm thấy ở một nơi cách xa đường mòn hơn 100m. Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản duy nhất của bà Bông bị mất là chiếc nhẫn 1 chỉ vàng 24K, với lý do Nén đã làm mất khi bỏ chạy… Tại phiên tòa ngày 31/8/2000, ngoài lời nhận tội của Huỳnh Văn Nén (mà Nén khai do bị bức cung, nhục hình), không có nhân chứng, vật chứng nào khẳng định anh ta giết bà Bông.
         
         Huỳnh Văn Nén cởi áo, chỉ những vết sẹo mà anh ta nói là do bị đánh, tại phiên tòa ngày 9/3/2005  
                                                                                                             Nguyễn Đình Quân
Những bài trên báo Tiền Phong về vụ án vườn điều" và vụ Huỳnh Văn Nén:    http://www.tienphong.vn/search/duG7pSDDoW4gdsaw4budbiDEkWnhu4F1/vu-an-vuon-dieu.tpo?page=2