Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Thà chọn con vua trẻ, cho nghỉ khỏe sãi già

Nói gì thì nói, tôi tin một anh "con vua" 40 tuổi sẽ làm được nhiều cái hay hơn một ông "con sãi" gần 60 tuổi.
Tứ thập nhi bất hoặc, 40 tuổi là quá chững chạc rồi, cũng chẳng trẻ gì nữa.

Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015

Sự trớ trêu của tôn vinh và tưởng vọng

Nếu Hoàng Kế Viêm kém tài, đánh thua và chết vì tay quân Pháp như Nguyễn Tri Phương, có lẽ ông cũng đã được vinh danh!

Nguyễn Tri Phương
Từ cuối năm 1858 đến đầu năm 1860, Nguyễn Tri Phương được cử làm Quân thứ Tổng thống đại thần, chỉ huy khoảng 4000 quân chống lại liên quân Pháp - Tây Ban Nha, quân số khoảng 3000 người ở mặt trận Đà Nẵng. Tỷ lệ quân Việt Nam – liên quân là 4:3. Liên quân bị thiệt hại nặng, đến ngày 22/3/1860 rút hết khỏi Đà Nẵng. Chiến dịch này được coi là thắng lợi duy nhất trong cuộc chiến chống Pháp của quân triều đình Huế. Tuy nhiên, có những lúc phía liên quân chán nản, kiệt quệ do mất nhiều binh lính vì chết trận và dịch bệnh, nhưng đại quân của Nguyễn Tri Phương cứ án binh bất động, không chủ động tiến công đánh đuổi quân cướp nước. Vì vậy, Nguyễn Tri Phương bị vua Tự Đức trách "sợ oai giặc" và gieo vào dân chúng sự lo lắng hãi hùng.
Ngày 17/2/1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Tháng 8/1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ, Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở miền Nam. Nguyễn Tri Phương củng cố đại đồn Chí Hòa để đối phó các cuộc tiến công của quân Pháp. Nhưng ngày 24/2/1861 và ngày 25/2/1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, Nguyễn Tri Phương bị thương, đại đồn thất thủ. Em ruột ông là Nguyễn Duy tử trận. Trận này, lực lượng quân Việt Nam có khoảng 30.000 người, quân Pháp có khoảng 5.000 quân, tỷ lệ 6:1. Sau trận đại bại Chí Hòa, sĩ khí quân lính và quan lại ta suy giảm nặng nề, triều đình Huế từ chủ trương "thủ để hòa" chuyển sang "chủ hòa", Việt Nam để mất dần từng phần đất vào tay thực dân Pháp.
Rạng sáng ngày 20/11/1873, đại úy Francis Garnier và tay lái buôn Jean Dupuis tiến đánh thành Hà Nội. Khi đó Nguyễn Tri Phương là Khâm sai đại thần, thay mặt triều đình đảm trách việc quân sự ở Bắc Kỳ. Năm 1860, trong sớ tâu về Kinh, ông nêu lý do không chủ động đánh đuổi quân Pháp - Tây Ban Nha ở Đà Nẵng: Quân ta có nhiều kẻ sợ sệt, lạ nước lạ non, sức chiến đấu rất kém, với thực lực ba quân như thế, giữ thủ chưa xong, huống hồ là tấn công địch. Mười ba năm sau, đã chỉ huy quân đội trải qua trận đại chiến Chí Hòa, Nguyễn Tri Phương không nâng được tinh thần và năng lực chiến đấu của quân sĩ dưới quyền. Hơn 7000 quân triều đình ở Hà Nội không địch nổi hơn 300 quân Pháp (tỷ lệ 20:1), tan rã rất nhanh. Chỉ trong một giờ, quân Pháp đã treo cờ tam tài lên vọng lâu thành Hà Nội. Hơn hai nghìn quân triều đình bị bắt làm tù binh, con trai Nguyễn Tri Phương là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, phía quân Pháp chỉ có một người lính đánh thuê Vân Nam bị chết, do một sỹ quan Pháp bắn nhầm!
Thất bại của Nguyễn Tri Phương ở Hà Nội khiến quân triều đình mất hết nhuệ khí, đại úy Francis Garnier cho quân đi đánh lấy các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hải Dương dễ như trở bàn tay. Như ở thành Ninh Bình, 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có 7 người.  
Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương, được lính Pháp cứu chữa nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa.” Sau đó, ông tuyệt thực và mất vào ngày 20/12/1873, thọ 73 tuổi. 
Chỉ một ngày sau khi Nguyễn Tri Phương mất, ngày 21/12/1873 Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc tổ chức mai phục, giết chết Fracis Garnier tại Cầu Giấy.

Hoàng Kế Viêm
Năm 1873, Hoàng Kế Viêm (tên thật là Hoàng Tá Viêm) đang là Thống đốc Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang). Sau khi đại úy Fracis Garnier đánh chiếm thành Hà Nội và bắt được Nguyễn Tri Phương, Hoàng Kế Viêm được cử làm Tiết chế Bắc Kỳ quân vụ, chức vụ quân sự cao cấp nhất tại miền Bắc.  Ngày 21/12/1873, ông và thủ lĩnh quân Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc tổ chức mai phục, giết chết được Francis Garnier tại Cầu Giấy. Garnier bị giết, quân Pháp ở thành Hà Nội hoang mang đã tính cách bỏ thành chạy về Gia Định theo đường thủy. Sau đó, Pháp rút hết quân khỏi Hà Nội, trao trả lại Bắc Kỳ cho nhà Nguyễn.
Ngày 25/4/1882, đại tá Hải quân Pháp Henri Rivière đánh chiếm được thành Hà Nội. Đến ngày 19/5/1883, Rivière lại bị quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết chết tại Cầu Giấy.
Năm 1884, triều đình ký Hòa ước Giáp Thân (1884) với Pháp. Sau đó, vua Kiến Phúc đã ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm lúc đó đang đóng ở Sơn Tây rút quân về Huế, nhưng ông không tuân lệnh, vẫn ở lại đánh Pháp. Mãi đến khi Sơn Tây và Hưng Hóa thất thủ, ông mới chịu về Huế, nhưng cương quyết không hợp tác với phe chủ hòa. Ông xin về trí sĩ nhưng không được, mãi đến đời vua Thành Thái, năm 1889 ông mới được nghỉ hưu, về quê (làng Văn La, tổng Văn Đại, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình) sống đến khi mất (1909), thọ 89 tuổi.

Bây giờ, có nhiều đường phố, trường học, bệnh viện mang tên Nguyễn Tri Phương. Trong khi Hoàng Kế Viêm, người tổ chức giết chết kẻ đã đánh bại Nguyễn Tri Phương vẫn chưa được nhìn nhận, tưởng vọng xứng đáng.   






Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Núi Le 2015

Mấy lần ra đá Núi Le, chỉ thấy có hai điểm Núi Le A và Núi Le B. Bây giờ thấy mấy bạn Trung Quốc đưa hình ảnh đá Núi Le có 4 điểm có người trú đóng, hai điểm mới ở phía Nam to hơn hai điểm cũ, có luồng lạch to rộng. Các bạn ấy còn nói rằng diện tích hai điểm mới đến 20ha. Hoang mang quá, he he!  




Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

Biển Đông, tranh chấp đa phương, đa chiều lợi ích

Tự ta phải giữ chủ quyền cho ta thôi, chớ tin kẻ "cờ ngoài", đừng trông chờ thằng nào.

Tổng quan tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa

          Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Việt Nam là quốc gia đầu tiên xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tuy nhiên, Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ quần đảo Trường Sa. Hơn thế, Trung Quốc còn đưa ra “đường lưỡi bò - cow's tongue line”, đòi chủ quyền hơn 80% diện tích Biển Đông. Đài Loan (Trung Quốc) cũng tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ quần đảo Trường Sa. Philippines tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa và bãi Đá Lát ở phía Tây, một số bãi ở phía Nam quần đảo), gọi khu vực nước này tuyên bố chủ quyền là Nhóm đảo Kalayaan. Malaysia tuyên bố chủ quyền một phần phía Nam quần đảo Trường Sa. Bruney cũng cho rằng một phần khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước này. Theo tài liệu của Ủy ban Biên giới quốc gia Việt Nam, Trung Quốc đang chiếm đóng 7 bãi đá tại quần đảo Trường Sa, Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đóng đảo lớn nhất trong quần đảo là đảo Ba Bình, Philippines đang chiếm đóng 9 đảo, bãi trong quần đảo Trường Sa, Malaysia đang chiếm đóng 5 đảo, bãi trong quần đảo Trường Sa.
Yêu sách chủ quyền của các nước tại Biển Đông 
          Như vậy, tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là vấn đề quốc tế, đa phương, khá phức tạp (trong bài này tôi chỉ nêu những tranh chấp liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, không nêu nhiều tranh chấp chủ quyền khác và những tranh chấp không phải về chủ quyền mà về lợi ích). Lâu nay, Trung Quốc không chịu đàm phán quốc tế, đa phương, chỉ muốn đàm phán song phương với từng nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc. Lập trường này của Trung Quốc nhằm phục vụ những lợi ích, mưu đồ của họ, nên không được Việt Nam và nhiều nước khác chấp nhận. Thế nhưng tại Việt Nam, một số người lại có hướng cho rằng các vấn đề, sự kiện ở Biển Đông, ở Trường Sa chỉ là vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cách nhìn ấy sẽ dẫn đến những luận giải, phản ứng chưa đúng.

Thái độ của quốc tế

          ASEAN sẽ ủng hộ Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa?
Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc (và Đài Loan, Trung Quốc), không có nước ASEAN nào tranh chấp với Việt Nam, nhưng đến nay chưa có dấu hiệu cho thấy ASEAN sẽ nghiêng hẳn về phía Việt Nam trong cuộc tranh chấp này. Tại quần đảo Trường Sa, ngoài Trung Quốc (và Đài Loan, Trung Quốc), Việt Nam có tranh chấp chủ quyền với 3 nước ASEAN khác, nên càng khó có chuyện ASEAN ủng hộ Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của 3 nước thành viên ASEAN kia.
Trung Quốc triệt để lợi dụng, khai thác việc 4 quốc gia thuộc ASEAN có tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, có mâu thuẫn với nhau về lợi ích tại đây để dụ dỗ từng nước đàm phán riêng lẻ với Trung Quốc. Nếu các nước ASEAN có tranh chấp với nhau về chủ quyền tại Trường Sa không tạm gác tranh chấp, không hợp tác với nhau để đối phó với Trung Quốc mà tìm cách “ăn mảnh”, sẽ chỉ có Trung Quốc được lợi.    

Mỹ sẽ giúp Việt Nam đến mức nào trong các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông?
          Năm 1974, Mỹ đã làm ngơ, nếu không muốn nói là đã có thỏa thuận ngầm với Trung Quốc, để Trung Quốc chiếm trọn phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa đang có quân đội Việt Nam Cộng hòa, đồng minh của Mỹ canh giữ. Trước đó, Mỹ đã để cho Philippines chiếm giữ nhiều đảo ở quần đảo Trường Sa từ tay đồng minh Việt Nam Cộng hòa.   
          Hiện nay, Mỹ tuyên bố không bênh vực bên nào trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Mỹ phản đối hành động của Trung Quốc bồi đắp đảo nhân tạo ở Trường Sa. Thế nhưng, quan niệm của Mỹ về quần đảo Trường Sa lại có phần giống với quan niệm của Trung Quốc hơn của Việt Nam, có lợi cho Trung Quốc hơn.  
Gần đây một số báo nhắc tới việc, ngày 13/5/2015 Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear nói trong phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ rằng, Việt Nam đang có 48 điểm đóng quân ở Trường Sa. Thực sự, Việt Nam đang đóng giữ 9 đảo và 12 đá, bãi (đảo chìm) ở Trường Sa, với 33 điểm đóng quân. Vậy ông David Shear đếm sai? Ông ta không đếm sai, mà đã tính cả 15 nhà giàn DK1 ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam vào số cơ sở của Việt Nam ở Trường Sa.
Nhà nước Việt Nam khẳng định, khu vực các nhà giàn DK1 trên các bãi cạn Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế Đường, Vũng Mây, Huyền Trân nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa, hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam, không có tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trong khi đó, Trung Quốc cho rằng quần đảo Trường Sa bao gồm hầu hết phần phía Nam đường lưỡi bò mà họ tùy tiện vẽ ra, có cả khu vực nhà dàn DK1 của Việt Nam. Mỹ cũng cho rằng khu vực các bãi cạn Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế Đường, Vũng Mây, Huyền Trân thuộc quần đảo Trường Sa. Như vậy, một vùng biển rộng lớn thuộc chủ quyền Việt Nam đã bị Mỹ coi là vùng có tranh chấp. Đây là điều hợp với mong muốn của Trung Quốc, có lợi cho Trung Quốc.

Bản đồ của CIA về quần đảo Trường Sa, bao gồm cả bãi  Phúc Tần (Prince of Wales Bank), bãi  Phúc Nguyên (Prince Consort Bank), bãi Huyền Trân (Alexandra Bank), bãi Quế Đường (Grainger Bank), bãi Vũng Mây (Rifleman Bank) và bãi Tư Chính (Vanguard Bank)
Hơn thế nữa, tháng 5/1992 công ty Crestone Energy của Mỹ đã ký với Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) hợp đồng thăm dò dầu khí ở các lô 133 – 134 – 135 trên thềm lục địa Việt Nam, cạnh bãi ngầm Tư Chính (Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc-21). Cho đến năm 1994, công ty Crestone Energy mới ngưng việc thăm dò ở khu vực bãi Tư Chính, sau khi gặp những phản ứng quyết liệt của Việt Nam. Tuy Chính phủ Mỹ tuyên bố không biết, không liên quan đến hợp đồng giữa công ty Crestone Energy với Trung Quốc, nhưng có cơ sở để tin rằng Crestone ký hợp đồng với CNOOC vì biết Chính phủ Mỹ coi bãi Tư Chính không thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến nay, những lời nói của Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear một lần nữa cho thấy, Mỹ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đến mức nào.   
Khu vực Crestone Energy ký hợp đồng thăm dò với Trung Quốc
  Đã có quốc gia nào chính thức công nhận Việt Nam có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa? Tôi chưa thấy. Cũng chưa thấy quốc tế công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác. 
          
          Thêm:
          Nếu có xung đột vũ trang giữa Việt Nam với Trung Quốc tại Hoàng Sa hay Trường Sa, nếu Việt Nam la rằng Trung Quốc xâm lược, có ai la theo rằng Trung Quốc xâm lược Việt Nam không? Không. Cùng lắm, sẽ có vài tiếng nói lên án Trung Quốc hung hăng gây hấn, sau đó kêu gọi hai bên kìm chế, tránh leo thang xung đột, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp lý quốc tế, vân vân và vân vân. Nhưng nếu ta không khôn khéo xử lý trước sự càn rỡ khiêu khích của đối phương, nóng máu hành động, có khi kẻ bị lên án lại là ta đó.  

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

ƯU TIÊN NHÀ QUÊ LÀ XÂM PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI Ở TỈNH!

Có mấy bạn la lối, đòi bỏ chính sách cộng điểm ưu tiên khi tuyển sinh đại học, cho rằng chính sách đó là bất công, xâm hại quyền lợi của thí sinh thành thị.
Thôi, chả nói chuyện “người nhà quê” thiệt thòi, điều kiện ăn, học không bằng “người ở tỉnh”, ối người nói rồi. Chỉ nghĩ tới cảnh vất vả của “nhà quê” mỗi kỳ thi, phải cơm đùm cơm nắm lên “tỉnh”, lo kiếm chỗ tá túc, lo giữ đồ đạc khỏi bị ăn trộm ăn cắp, lo ngộ độc thức ăn, mất ngủ do lạ nhà… Mấy thứ đó khiến “nhà quê” rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến việc ôn bài, đến kết quả thi. Điểm thi của “nhà quê” thua điểm thi của “thành thị” một vài điểm chưa chắc do dốt hơn, mà do những lý do trên.

Thực tế, khi vào trường, “nhà quê” học không hề thua kém các bạn ở thành thị.     

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Những kẻ phá hoại

Tây Nam, chưa gì đã có những kẻ nói giọng chiến tranh, nhân danh yêu nước. Rất ghét điều đó. Rất không thích những lời nói về người Campuchia một cách kẻ cả, miệt thị.
Ai làm ơn với bạn, bạn biết ơn họ suốt đời, nhưng kẻ đó cậy đã giúp bạn rồi lên giọng này nọ với bạn, coi bạn như cỏ rác, bạn có thích không, sự biết ơn với người kia có giảm đi không?
Có 3 láng giềng, bạn bảo một người là kẻ thù truyền kiếp, một người bạn cho là khó tin được, một người bị bạn cho là lá mặt lá trái. Với thái độ đó, chắc bạn được 3 người kia và những người khác coi bạn là thiên thần?
Có những người viết rằng xương máu của bao nhiêu người Việt đã hy sinh để diệt chế độ Pol Pot là hoài phí, sao không để bọn diệt chủng đó diệt hết người Khmer đi, đỡ hậu họa. Kinh tởm với suy nghĩ đó. Chính những suy nghĩ kiểu đó, chính những kẻ tán dương việc miệt thị người Campuchia đang phá hoại tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia, thành quả mà xương máu bao người, trong đó có những người bạn, người đồng đội của tôi đã vun đắp.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

Mỹ - Mẽo - Mỹ

70 năm trước, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã chìa tay đề nghị Hoa Kỳ ủng hộ nền độc lập của mình. Nhưng thay vì ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, Mỹ đã giúp đỡ Pháp trở lại đô hộ Việt Nam.
Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ngày 16 tháng 2 năm 1946




DEAR MR. PRESIDENT:
 Our VIETNAM people, as early as 1941, stood by the Allies' side and fought against the Japanese and their associates, the French colonialists.
From 1941 to 1945 we fought bitterly, sustained by the patriotism, of our fellow-countrymen and by the promises made by the Allies at YALTA, SAN FRANCISCO and POTSDAM.
 When the Japanese were defeated in August 1945, the whole Vietnam territory was united under a Provisional Republican Government, which immediately set out to work. In five months, peace and order were restored, a democratic republic was established on legal bases, and adequate help was given to the Allies in the carrying out of their disarmament mission.
But the French Colonialists, who betrayed in wartime both the Allies and the Vietnamese, have come back, and are waging on us a murderous and pitiless war in order reestablish their domination. Their invasion has extended to South Vietnam and is menacing us in North Vietnam. It would take volumes to give even an abbreviated report of the crisis and assassinations they are committing everyday in this fighting area.
 This aggression is contrary to all principles of international law and the pledge made by the Allies during World War II. It is a challenge to the noble attitude shown before, during, and after the war by the United States Government and People. It violently contrasts with the firm stand you have taken in your twelve point declaration, and with the idealistic loftiness and generosity expressed by your delegates to the United Nations Assembly, MM. BYRNES, STETTINIUS, AND J.F. DULLES.
 The French aggression on a peace-loving people is a direct menace to world security. It implies the complicity, or at least the connivance of the Great Democracies. The United Nations ought to keep their words. They ought to interfere to stop this unjust war, and to show that they mean to carry out in peacetime the principles for which they fought in wartime.
Our Vietnamese people, after so many years of spoliation and devastation, is just beginning its building-up work. It needs security and freedom, first to achieve internal prosperity and welfare, and later to bring its small contribution to world-reconstruction.
 These security and freedom can only be guaranteed by our independence from any colonial power, and our free cooperation with all other powers. It is with this firm conviction that we request of the United Sates as guardians and champions of World Justice to take a decisive step in support of our independence.
What we ask has been graciously granted to the Philippines. Like the Philippines our goal is full independence and full cooperation with the UNITED STATES. We will do our best to make this independence and cooperation profitable to the whole world.

I am Dear Mr. PRESIDENT,
Respectfully Yours,
 Ho Chi Minh



Ngài Tổng thống kính mến:
 Người Việt Nam chúng tôi ngay từ năm 1941 đã đứng về phía quân Đồng Minh để chống lại quân Nhật và chư hầu của họ là thực dân Pháp.
 Từ năm 1941 đến 1945, chúng tôi đã chiến đấu quyết liệt dựa trên tinh thần ái quốc của những đồng bào, đồng chí của chúng tôi và bởi những thoả ước được vạch định bởi Đồng Minh tại Yalta, San Francisco và Postdam.
 Khi quân Nhật bị đánh bại vào tháng 8 năm 1945, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được thống nhất dưới Chính Phủ Cộng Hoà lâm thời và cơ cấu chính phủ được tổ chức hoạt động ngay lập tức. Trong vòng năm tháng, hoà bình và trật tự đã được lập lại, một nền cộng hoà dân chủ đã được thiết lập trên những cơ sở pháp lí, và mang đến sự hỗ trợ thoả đáng cho phía Đồng Minh trong việc thực thi nhiệm vụ giải trừ quân bị.
 Nhưng thực dân Pháp, những người trong thời gian chiến tranh đã phản bội cả quân Đồng Minh và người Việt Nam, đã quay trở lại và đang bắt đầu một cuộc chiến dã man tàn bạo chống lại chúng tôi nhằm thiết lập lại sự thống trị của họ. Cuộc xâm lược của họ đã mở rộng xuống miền nam Việt Nam và đang uy hiếp trực tiếp chúng tôi tại bắc Việt Nam. Sẽ là những minh chứng hùng hồn ngay bây giờ nếu đưa ra một thông báo tóm lược về những cuộc khủng hoảng và tàn sát mà họ đang gây ra mỗi ngày trong vùng chiến sự.
 Cuộc xâm lược này hoàn toàn trái ngược với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và cam kết của Đồng Minh trong suốt thế chiến thứ Hai. Đó là một sự thách thức đối với những quan điểm tiến bộ của chính phủ và nhân dân Hoa Kì trước, trong suốt và sau chiến tranh. Nó hoàn toàn trái ngược hoàn toàn với quan điểm nhất quán mà ngài đã đề ra trong tuyên bố 12 điểm, và trái ngược với tinh thần cao thượng, khoan dung được bày tỏ bởi những người đại diện của ngài tại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Mm. Byrnes, Stettinius, và J.F. Dullas.
 Cuộc xâm lược của người Pháp đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình là một mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh thế giới. Điều đó bao hàm sự đồng loã hoặc chí ít là sự thoả hiệp của Nền Dân Chủ Vĩ Đại. Liên Hiệp Quốc nên giữ lời hứa của họ. Họ nên ngăn chặn để chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa này và cho thấy họ có ý định thực thi trong thời bình những nguyên tắc cơ bản mà vì nó họ đã chiến đấu trong thời chiến.
 Người Việt Nam chúng tôi sau nhiều năm bị cưỡng đoạt và tàn phá, hiện đang bắt đầu công cuộc tái thiết đất nước. Việc đó đòi hỏi an ninh và hoà bình, trước hết là để đạt được sự ổn định và thịnh vượng từ bên trong, và sau là để đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc tái thiết lại thế giới.
An ninh và hoà bình như vậy chỉ có thể được bảo đảm với sự độc lập của chúng tôi từ bất kì một thế lực thực dân nào cùng với sự cộng tác không bị ràng buộc với tất cả các cường quốc khác. Với sự tin tưởng vững chắc như vậy, chúng tôi đề nghị Hoa Kì trong vai trò những người chiến sĩ bảo vệ công lý thế giới có những biện pháp quyết định trong việc trợ giúp nền độc lập của chúng tôi.
 Những đòi hỏi giống như của chúng tôi đã được chấp nhận tại Phillipines. Giống như Phillippines, mục đích của chúng tôi là một nền độc lập tự chủ hoàn toàn và một mối liên minh toàn diện với Hoa Kì. Chúng tôi sẽ làm tất cả để mang lại lợi ích từ nền độc lập và liên minh này đến toàn thế giới.

Thân mến, Ngài Tổng Thống
Trân trọng đến Ngài

Hồ Chí Minh