Nói gì thì nói, tôi tin một anh "con vua" 40 tuổi sẽ làm được nhiều cái hay hơn một ông "con sãi" gần 60 tuổi.
Tứ thập nhi bất hoặc, 40 tuổi là quá chững chạc rồi, cũng chẳng trẻ gì nữa.
Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2015
Sự trớ trêu của tôn vinh và tưởng vọng
Nếu Hoàng Kế Viêm kém tài, đánh thua và chết
vì tay quân Pháp như Nguyễn Tri Phương, có lẽ ông cũng đã được vinh danh!
Nguyễn
Tri Phương
Từ cuối năm 1858 đến đầu năm 1860, Nguyễn Tri
Phương được cử làm Quân thứ Tổng thống đại thần, chỉ huy khoảng 4000 quân chống
lại liên quân Pháp - Tây Ban Nha, quân số khoảng 3000 người ở mặt trận Đà Nẵng.
Tỷ lệ quân Việt Nam – liên quân là 4:3. Liên quân bị thiệt hại nặng, đến ngày 22/3/1860 rút hết khỏi Đà
Nẵng. Chiến dịch này được coi là thắng lợi duy nhất trong cuộc chiến chống Pháp
của quân triều đình Huế. Tuy nhiên, có những lúc phía liên quân chán nản, kiệt
quệ do mất nhiều binh lính vì chết trận và dịch bệnh, nhưng đại quân của Nguyễn
Tri Phương cứ án binh bất động, không chủ động tiến công đánh đuổi quân cướp
nước. Vì vậy, Nguyễn Tri Phương bị vua Tự Đức trách "sợ oai giặc" và
gieo vào dân chúng sự lo lắng hãi hùng.
Ngày 17/2/1859, quân Pháp đánh chiếm thành
Gia Định. Tháng 8/1860, Nguyễn Tri Phương được sung chức Gia Định quân thứ,
Thống đốc quân vụ cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển trông coi việc quân sự ở
miền Nam .
Nguyễn Tri Phương củng cố đại đồn Chí Hòa để đối phó các cuộc tiến công của quân
Pháp. Nhưng ngày 24/2/1861 và ngày 25/2/1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí
Hòa, Nguyễn Tri Phương bị thương, đại đồn thất thủ. Em ruột ông là Nguyễn Duy
tử trận. Trận này, lực lượng quân Việt Nam có khoảng 30.000 người, quân Pháp có
khoảng 5.000 quân, tỷ lệ 6:1. Sau trận đại bại Chí Hòa, sĩ khí quân lính và
quan lại ta suy giảm nặng nề, triều đình Huế từ chủ trương "thủ để
hòa" chuyển sang "chủ hòa", Việt Nam để mất dần từng phần đất vào
tay thực dân Pháp.
Rạng sáng ngày 20/11/1873, đại úy Francis Garnier
và tay lái buôn Jean Dupuis tiến đánh thành Hà Nội. Khi đó Nguyễn Tri Phương là
Khâm sai đại thần, thay mặt triều đình đảm trách việc quân sự ở Bắc Kỳ. Năm
1860, trong sớ tâu về Kinh, ông nêu lý do không chủ động đánh đuổi quân Pháp -
Tây Ban Nha ở Đà Nẵng: Quân ta có nhiều kẻ sợ sệt, lạ nước lạ non,
sức chiến đấu rất kém, với thực lực ba quân như thế, giữ thủ chưa xong, huống
hồ là tấn công địch. Mười ba năm sau, đã chỉ huy quân đội trải qua trận đại
chiến Chí Hòa, Nguyễn Tri Phương không nâng được tinh thần và năng lực chiến
đấu của quân sĩ dưới quyền. Hơn 7000
quân triều đình ở Hà Nội không địch nổi hơn 300 quân Pháp (tỷ lệ 20:1), tan rã
rất nhanh. Chỉ trong một giờ, quân Pháp đã treo cờ tam tài lên vọng lâu thành
Hà Nội. Hơn hai nghìn quân triều đình bị bắt làm tù binh, con trai Nguyễn Tri
Phương là phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, phía quân Pháp chỉ có
một người lính đánh thuê Vân Nam bị chết, do một sỹ quan Pháp bắn nhầm!
Thất
bại của Nguyễn Tri Phương ở Hà Nội khiến quân triều đình mất hết nhuệ khí, đại
úy Francis Garnier cho quân đi đánh lấy các tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hải
Dương dễ như trở bàn tay. Như ở thành Ninh Bình, 1.700 binh lính hạ vũ khí đầu hàng một toán quân Pháp chỉ có
7 người.
Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương, được
lính Pháp cứu chữa nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: “Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống,
sao bằng thung dung chết về việc nghĩa.” Sau đó, ông tuyệt thực và mất vào
ngày 20/12/1873, thọ 73 tuổi.
Chỉ một ngày sau khi Nguyễn Tri Phương mất,
ngày 21/12/1873 Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc tổ
chức mai phục, giết chết Fracis Garnier tại Cầu Giấy.
Hoàng Kế Viêm
Năm 1873, Hoàng Kế Viêm (tên
thật là Hoàng Tá Viêm) đang
là Thống đốc Tam Tuyên (Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang). Sau khi đại úy
Fracis Garnier đánh chiếm thành Hà Nội và bắt được Nguyễn Tri Phương, Hoàng Kế
Viêm được cử làm Tiết chế Bắc Kỳ
quân vụ, chức vụ quân sự cao cấp nhất tại miền Bắc. Ngày 21/12/1873,
ông và thủ lĩnh quân Cờ Đen là Lưu Vĩnh Phúc tổ chức mai phục, giết chết được Francis
Garnier tại Cầu Giấy. Garnier bị giết, quân Pháp ở thành Hà Nội hoang mang
đã tính cách bỏ thành chạy về Gia Định theo đường thủy. Sau đó, Pháp rút hết
quân khỏi Hà Nội, trao trả lại Bắc Kỳ cho nhà Nguyễn.
Ngày
25/4/1882, đại tá Hải quân Pháp Henri Rivière đánh
chiếm được thành Hà Nội. Đến ngày 19/5/1883,
Rivière lại bị quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết chết tại Cầu Giấy.
Năm
1884, triều đình ký Hòa ước Giáp Thân (1884) với Pháp.
Sau đó, vua Kiến Phúc đã ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm lúc
đó đang đóng ở Sơn Tây rút quân về Huế, nhưng ông
không tuân lệnh, vẫn ở lại đánh Pháp. Mãi đến khi Sơn Tây và Hưng Hóa thất thủ, ông mới chịu về
Huế, nhưng cương quyết không hợp tác với phe chủ hòa. Ông xin về trí sĩ nhưng
không được, mãi đến đời vua Thành Thái,
năm 1889
ông mới được nghỉ hưu, về quê (làng Văn La, tổng Văn Đại, huyện Quảng Ninh,
tỉnh Quảng Bình) sống đến khi mất (1909), thọ 89 tuổi.
Bây giờ,
có nhiều đường phố, trường học, bệnh viện mang tên Nguyễn Tri Phương. Trong khi
Hoàng Kế Viêm, người tổ chức giết chết kẻ đã đánh bại Nguyễn Tri Phương vẫn
chưa được nhìn nhận, tưởng vọng xứng đáng.
Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015
Núi Le 2015
Mấy lần ra đá Núi Le, chỉ thấy có hai điểm Núi Le A và Núi Le B. Bây giờ thấy mấy bạn Trung Quốc đưa hình ảnh đá Núi Le có 4 điểm có người trú đóng, hai điểm mới ở phía Nam to hơn hai điểm cũ, có luồng lạch to rộng. Các bạn ấy còn nói rằng diện tích hai điểm mới đến 20ha. Hoang mang quá, he he!
Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015
Biển Đông, tranh chấp đa phương, đa chiều lợi ích
Tự ta phải giữ chủ quyền cho ta thôi,
chớ tin kẻ "cờ ngoài",
đừng trông chờ thằng nào.
Tổng quan tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa
Tổng quan tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa
Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý,
lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa; Việt Nam là quốc gia đầu tiên xác lập chủ quyền và là quốc gia duy
nhất quản lý liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tuy nhiên, Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền đối với
toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ quần đảo Trường Sa. Hơn thế, Trung Quốc
còn đưa ra “đường lưỡi bò - cow's tongue line”, đòi chủ quyền hơn 80% diện tích
Biển Đông. Đài Loan (Trung Quốc) cũng tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần
đảo Hoàng Sa và toàn bộ quần đảo Trường Sa. Philippines tuyên bố chủ quyền đối
với phần lớn quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa và bãi Đá Lát ở phía Tây,
một số bãi ở phía Nam quần đảo), gọi khu vực nước này tuyên bố chủ quyền là
Nhóm đảo Kalayaan. Malaysia
tuyên bố chủ quyền một phần phía Nam quần đảo Trường Sa. Bruney cũng
cho rằng một phần khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùng đặc quyền kinh tế và
thềm lục địa của nước này. Theo tài liệu của Ủy ban Biên giới quốc gia Việt
Nam, Trung Quốc đang chiếm đóng 7 bãi đá tại quần đảo Trường Sa, Đài Loan
(Trung Quốc) chiếm đóng đảo lớn nhất trong quần đảo là đảo Ba Bình, Philippines
đang chiếm đóng 9 đảo, bãi trong quần đảo Trường Sa, Malaysia đang chiếm đóng 5
đảo, bãi trong quần đảo Trường Sa.
Yêu sách chủ quyền của các nước tại Biển Đông
Như vậy, tranh chấp chủ quyền ở Biển
Đông là vấn đề quốc tế, đa phương, khá phức tạp (trong bài này tôi chỉ nêu
những tranh chấp liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, không
nêu nhiều tranh chấp chủ quyền khác và những tranh chấp không phải về chủ quyền
mà về lợi ích). Lâu nay, Trung Quốc không chịu đàm phán quốc tế, đa phương, chỉ
muốn đàm phán song phương với từng nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với
Trung Quốc. Lập trường này của Trung Quốc nhằm phục vụ những lợi ích, mưu đồ
của họ, nên không được Việt Nam
và nhiều nước khác chấp nhận. Thế nhưng tại Việt Nam, một số người lại có hướng
cho rằng các vấn đề, sự kiện ở Biển Đông, ở Trường Sa chỉ là vấn đề giữa Việt
Nam và Trung Quốc. Cách nhìn ấy sẽ dẫn đến những luận giải, phản ứng chưa đúng.
Thái độ của quốc tế
ASEAN
sẽ ủng hộ Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo
Trường Sa?
Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là vấn đề tranh
chấp giữa Việt Nam với Trung
Quốc (và Đài Loan, Trung Quốc), không có nước ASEAN nào tranh chấp với Việt Nam , nhưng đến nay chưa có dấu hiệu cho thấy ASEAN
sẽ nghiêng hẳn về phía Việt Nam
trong cuộc tranh chấp này. Tại quần đảo Trường Sa, ngoài Trung Quốc (và Đài
Loan, Trung Quốc), Việt Nam có tranh chấp chủ quyền với 3 nước ASEAN khác, nên
càng khó có chuyện ASEAN ủng hộ Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo
Trường Sa, vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của 3 nước thành viên ASEAN
kia.
Trung Quốc triệt để lợi dụng, khai thác việc 4 quốc
gia thuộc ASEAN có tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, có mâu thuẫn
với nhau về lợi ích tại đây để dụ dỗ từng nước đàm phán riêng lẻ với Trung
Quốc. Nếu các nước ASEAN có tranh chấp với nhau về chủ quyền tại Trường Sa không
tạm gác tranh chấp, không hợp tác với nhau để đối phó với Trung Quốc mà tìm
cách “ăn mảnh”, sẽ chỉ có Trung Quốc được lợi.
Mỹ sẽ giúp
Việt Nam
đến mức nào trong các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông?
Năm 1974, Mỹ đã làm ngơ, nếu không
muốn nói là đã có thỏa thuận ngầm với Trung Quốc, để Trung Quốc chiếm trọn phần
phía Tây quần đảo Hoàng Sa đang có quân đội Việt Nam Cộng hòa, đồng minh của Mỹ
canh giữ. Trước đó, Mỹ đã để cho Philippines chiếm giữ nhiều đảo ở
quần đảo Trường Sa từ tay đồng minh Việt Nam Cộng hòa.
Hiện nay, Mỹ tuyên bố không bênh vực
bên nào trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Mỹ phản đối hành động của Trung
Quốc bồi đắp đảo nhân tạo ở Trường Sa. Thế nhưng, quan niệm của Mỹ về quần đảo
Trường Sa lại có phần giống với quan niệm của Trung Quốc hơn của Việt Nam , có lợi cho
Trung Quốc hơn.
Gần đây một số báo nhắc tới việc, ngày 13/5/2015 Trợ
lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear nói trong phiên điều trần tại Ủy ban Đối
ngoại Thượng viện Mỹ rằng, Việt Nam đang có 48 điểm đóng quân ở Trường Sa. Thực
sự, Việt Nam đang đóng giữ 9 đảo và 12 đá, bãi (đảo chìm) ở Trường Sa, với 33
điểm đóng quân. Vậy ông David Shear đếm sai? Ông ta không đếm sai, mà đã tính
cả 15 nhà giàn DK1 ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam vào số cơ sở của Việt Nam ở
Trường Sa.
Nhà nước
Việt Nam khẳng định, khu vực các nhà giàn DK1 trên các bãi cạn Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế
Đường, Vũng Mây, Huyền Trân nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa, hoàn toàn thuộc chủ quyền của
Việt Nam, không có tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trong khi đó, Trung Quốc cho rằng quần đảo Trường Sa
bao gồm hầu hết phần phía Nam đường lưỡi bò mà họ tùy tiện vẽ ra, có cả khu vực
nhà dàn DK1 của Việt Nam. Mỹ cũng cho rằng khu vực các bãi cạn Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế
Đường, Vũng Mây, Huyền Trân thuộc quần đảo Trường Sa. Như vậy, một vùng
biển rộng lớn thuộc chủ quyền Việt Nam đã bị Mỹ coi là vùng có tranh
chấp. Đây là điều hợp với mong muốn của Trung Quốc, có lợi cho Trung Quốc.
Bản đồ của CIA về quần đảo Trường Sa, bao
gồm cả bãi Phúc Tần (Prince of Wales
Bank), bãi Phúc Nguyên (Prince Consort
Bank), bãi Huyền Trân (Alexandra Bank), bãi Quế Đường (Grainger Bank), bãi Vũng
Mây (Rifleman Bank) và bãi Tư Chính (Vanguard Bank)
Hơn thế nữa, tháng 5/1992 công ty Crestone Energy của
Mỹ đã ký với Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc
(CNOOC) hợp đồng thăm dò dầu khí ở các lô 133 – 134 – 135 trên thềm lục địa
Việt Nam, cạnh bãi ngầm Tư Chính (Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc-21). Cho đến năm
1994, công ty Crestone Energy mới ngưng việc thăm dò ở khu vực bãi Tư Chính, sau
khi gặp những phản ứng quyết liệt của Việt Nam . Tuy Chính phủ Mỹ tuyên bố không
biết, không liên quan đến hợp đồng giữa công ty Crestone Energy với Trung Quốc,
nhưng có cơ sở để tin rằng Crestone ký hợp đồng với CNOOC vì biết Chính
phủ Mỹ coi bãi Tư Chính không thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến nay, những lời nói của
Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear một lần nữa cho thấy, Mỹ tôn trọng
chủ quyền của Việt Nam đến mức nào.
Khu vực Crestone Energy ký hợp đồng thăm dò với Trung Quốc
Đã có
quốc gia nào chính thức công nhận Việt Nam có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng
Sa và quần đảo Trường Sa? Tôi chưa thấy. Cũng chưa thấy quốc tế công nhận
Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác.
Thêm:
Nếu
có xung đột vũ trang giữa Việt Nam với Trung Quốc tại Hoàng Sa hay Trường Sa, nếu
Việt Nam la rằng Trung Quốc xâm lược, có ai la theo rằng Trung Quốc xâm lược
Việt Nam không? Không. Cùng lắm, sẽ có vài tiếng nói lên án Trung Quốc hung
hăng gây hấn, sau đó kêu gọi hai bên kìm chế, tránh leo thang xung đột, giải
quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp lý quốc tế, vân vân và
vân vân. Nhưng nếu ta không khôn khéo xử lý trước sự càn rỡ khiêu khích của đối
phương, nóng máu hành động, có khi kẻ bị lên án lại là ta đó.
Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015
ƯU TIÊN NHÀ QUÊ LÀ XÂM PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI Ở TỈNH!
Có mấy bạn la lối, đòi bỏ chính sách cộng điểm ưu tiên
khi tuyển sinh đại học, cho rằng chính sách đó là bất công, xâm hại quyền lợi
của thí sinh thành thị.
Thôi, chả nói chuyện “người nhà quê” thiệt thòi, điều
kiện ăn, học không bằng “người ở tỉnh”, ối người nói rồi. Chỉ nghĩ tới cảnh vất
vả của “nhà quê” mỗi kỳ thi, phải cơm đùm cơm nắm lên “tỉnh”, lo kiếm chỗ tá
túc, lo giữ đồ đạc khỏi bị ăn trộm ăn cắp, lo ngộ độc thức ăn, mất ngủ do
lạ nhà… Mấy thứ đó khiến “nhà quê” rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến việc ôn bài, đến
kết quả thi. Điểm thi của “nhà quê” thua điểm thi của “thành thị” một vài điểm
chưa chắc do dốt hơn, mà do những lý do trên.
Thực tế, khi vào trường, “nhà quê” học không hề thua
kém các bạn ở thành thị.
Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015
Những kẻ phá hoại
Tây Nam, chưa gì đã có những kẻ nói giọng chiến tranh, nhân danh yêu nước. Rất ghét điều đó. Rất không thích những lời nói về người Campuchia một cách kẻ cả, miệt thị.
Ai làm ơn với bạn, bạn biết ơn họ suốt đời, nhưng kẻ đó cậy đã giúp bạn rồi lên giọng này nọ với bạn, coi bạn như cỏ rác, bạn có thích không, sự biết ơn với người kia có giảm đi không?
Có 3 láng giềng, bạn bảo một người là kẻ thù truyền kiếp, một người bạn cho là khó tin được, một người bị bạn cho là lá mặt lá trái. Với thái độ đó, chắc bạn được 3 người kia và những người khác coi bạn là thiên thần?
Có những người viết rằng xương máu của bao nhiêu người Việt đã hy sinh để diệt chế độ Pol Pot là hoài phí, sao không để bọn diệt chủng đó diệt hết người Khmer đi, đỡ hậu họa. Kinh tởm với suy nghĩ đó. Chính những suy nghĩ kiểu đó, chính những kẻ tán dương việc miệt thị người Campuchia đang phá hoại tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia, thành quả mà xương máu bao người, trong đó có những người bạn, người đồng đội của tôi đã vun đắp.
Ai làm ơn với bạn, bạn biết ơn họ suốt đời, nhưng kẻ đó cậy đã giúp bạn rồi lên giọng này nọ với bạn, coi bạn như cỏ rác, bạn có thích không, sự biết ơn với người kia có giảm đi không?
Có 3 láng giềng, bạn bảo một người là kẻ thù truyền kiếp, một người bạn cho là khó tin được, một người bị bạn cho là lá mặt lá trái. Với thái độ đó, chắc bạn được 3 người kia và những người khác coi bạn là thiên thần?
Có những người viết rằng xương máu của bao nhiêu người Việt đã hy sinh để diệt chế độ Pol Pot là hoài phí, sao không để bọn diệt chủng đó diệt hết người Khmer đi, đỡ hậu họa. Kinh tởm với suy nghĩ đó. Chính những suy nghĩ kiểu đó, chính những kẻ tán dương việc miệt thị người Campuchia đang phá hoại tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia, thành quả mà xương máu bao người, trong đó có những người bạn, người đồng đội của tôi đã vun đắp.
Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015
Mỹ - Mẽo - Mỹ
70 năm trước, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã chìa tay đề nghị Hoa Kỳ ủng hộ nền độc lập của mình. Nhưng thay vì ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, Mỹ đã giúp đỡ Pháp trở lại đô hộ Việt Nam.
Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ngày 16 tháng 2 năm 1946
Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ngày 16 tháng 2 năm 1946
DEAR
MR. PRESIDENT:
Our
VIETNAM
people, as early as 1941, stood by the Allies' side and fought against the
Japanese and their associates, the French colonialists.
From
1941 to 1945 we fought bitterly, sustained by the patriotism, of our
fellow-countrymen and by the promises made by the Allies at YALTA ,
SAN FRANCISCO and POTSDAM .
When
the Japanese were defeated in August 1945, the whole Vietnam territory was united under
a Provisional Republican Government, which immediately set out to work. In five
months, peace and order were restored, a democratic republic was established on
legal bases, and adequate help was given to the Allies in the carrying out of
their disarmament mission.
But
the French Colonialists, who betrayed in wartime both the Allies and the
Vietnamese, have come back, and are waging on us a murderous and pitiless war
in order reestablish their domination. Their invasion has extended to South Vietnam and is menacing us in North Vietnam .
It would take volumes to give even an abbreviated report of the crisis and
assassinations they are committing everyday in this fighting area.
This
aggression is contrary to all principles of international law and the pledge
made by the Allies during World War II. It is a challenge to the noble attitude
shown before, during, and after the war by the United States Government and
People. It violently contrasts with the firm stand you have taken in your
twelve point declaration, and with the idealistic loftiness and generosity
expressed by your delegates to the United Nations Assembly, MM. BYRNES,
STETTINIUS, AND J.F. DULLES.
The
French aggression on a peace-loving people is a direct menace to world
security. It implies the complicity, or at least the connivance of the Great
Democracies. The United Nations ought to keep their words. They ought to
interfere to stop this unjust war, and to show that they mean to carry out in
peacetime the principles for which they fought in wartime.
Our
Vietnamese people, after so many years of spoliation and devastation, is just
beginning its building-up work. It needs security and freedom, first to achieve
internal prosperity and welfare, and later to bring its small contribution to
world-reconstruction.
These
security and freedom can only be guaranteed by our independence from any
colonial power, and our free cooperation with all other powers. It is with this
firm conviction that we request of the United Sates as guardians and champions
of World Justice to take a decisive step in support of our independence.
What
we ask has been graciously granted to the Philippines . Like the Philippines our
goal is full independence and full cooperation with the UNITED STATES. We will
do our best to make this independence and cooperation profitable to the whole
world.
I
am Dear Mr. PRESIDENT,
Respectfully
Yours,
Ho Chi Minh
Ngài
Tổng thống kính mến:
Người
Việt Nam
chúng tôi ngay từ năm 1941 đã đứng về phía quân Đồng Minh để chống lại quân
Nhật và chư hầu của họ là thực dân Pháp.
Từ
năm 1941 đến 1945, chúng tôi đã chiến đấu quyết liệt dựa trên tinh thần ái quốc
của những đồng bào, đồng chí của chúng tôi và bởi những thoả ước được vạch định
bởi Đồng Minh tại Yalta, San Francisco và Postdam.
Khi
quân Nhật bị đánh bại vào tháng 8 năm 1945, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được
thống nhất dưới Chính Phủ Cộng Hoà lâm thời và cơ cấu chính phủ được tổ chức
hoạt động ngay lập tức. Trong vòng năm tháng, hoà bình và trật tự đã được lập
lại, một nền cộng hoà dân chủ đã được thiết lập trên những cơ sở pháp lí, và
mang đến sự hỗ trợ thoả đáng cho phía Đồng Minh trong việc thực thi nhiệm vụ
giải trừ quân bị.
Nhưng
thực dân Pháp, những người trong thời gian chiến tranh đã phản bội cả quân Đồng
Minh và người Việt Nam, đã quay trở lại và đang bắt đầu một cuộc chiến dã man
tàn bạo chống lại chúng tôi nhằm thiết lập lại sự thống trị của họ. Cuộc xâm
lược của họ đã mở rộng xuống miền nam Việt Nam
và đang uy hiếp trực tiếp chúng tôi tại bắc Việt Nam . Sẽ là những minh chứng hùng
hồn ngay bây giờ nếu đưa ra một thông báo tóm lược về những cuộc khủng hoảng và
tàn sát mà họ đang gây ra mỗi ngày trong vùng chiến sự.
Cuộc
xâm lược này hoàn toàn trái ngược với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và
cam kết của Đồng Minh trong suốt thế chiến thứ Hai. Đó là một sự thách thức đối
với những quan điểm tiến bộ của chính phủ và nhân dân Hoa Kì trước, trong suốt
và sau chiến tranh. Nó hoàn toàn trái ngược hoàn toàn với quan điểm nhất quán
mà ngài đã đề ra trong tuyên bố 12 điểm, và trái ngược với tinh thần cao
thượng, khoan dung được bày tỏ bởi những người đại diện của ngài tại Hội Đồng
Liên Hiệp Quốc, Mm. Byrnes, Stettinius, và J.F. Dullas.
Cuộc
xâm lược của người Pháp đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình là một mối đe dọa
trực tiếp đối với an ninh thế giới. Điều đó bao hàm sự đồng loã hoặc chí ít là
sự thoả hiệp của Nền Dân Chủ Vĩ Đại. Liên Hiệp Quốc nên giữ lời hứa của họ. Họ
nên ngăn chặn để chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa này và cho thấy họ có ý định
thực thi trong thời bình những nguyên tắc cơ bản mà vì nó họ đã chiến đấu trong
thời chiến.
Người
Việt Nam
chúng tôi sau nhiều năm bị cưỡng đoạt và tàn phá, hiện đang bắt đầu công cuộc
tái thiết đất nước. Việc đó đòi hỏi an ninh và hoà bình, trước hết là để đạt
được sự ổn định và thịnh vượng từ bên trong, và sau là để đóng góp một phần nhỏ
bé vào công cuộc tái thiết lại thế giới.
An
ninh và hoà bình như vậy chỉ có thể được bảo đảm với sự độc lập của chúng tôi
từ bất kì một thế lực thực dân nào cùng với sự cộng tác không bị ràng buộc với
tất cả các cường quốc khác. Với sự tin tưởng vững chắc như vậy, chúng tôi đề
nghị Hoa Kì trong vai trò những người chiến sĩ bảo vệ công lý thế giới có những
biện pháp quyết định trong việc trợ giúp nền độc lập của chúng tôi.
Những
đòi hỏi giống như của chúng tôi đã được chấp nhận tại Phillipines. Giống như
Phillippines, mục đích của chúng tôi là một nền độc lập tự chủ hoàn toàn và một
mối liên minh toàn diện với Hoa Kì. Chúng tôi sẽ làm tất cả để mang lại lợi ích
từ nền độc lập và liên minh này đến toàn thế giới.
Thân
mến, Ngài Tổng Thống
Trân
trọng đến Ngài
Hồ
Chí Minh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









