Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2015

Biển Đông, tranh chấp đa phương, đa chiều lợi ích

Tự ta phải giữ chủ quyền cho ta thôi, chớ tin kẻ "cờ ngoài", đừng trông chờ thằng nào.

Tổng quan tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa

          Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử để khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; Việt Nam là quốc gia đầu tiên xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Tuy nhiên, Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ quần đảo Trường Sa. Hơn thế, Trung Quốc còn đưa ra “đường lưỡi bò - cow's tongue line”, đòi chủ quyền hơn 80% diện tích Biển Đông. Đài Loan (Trung Quốc) cũng tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và toàn bộ quần đảo Trường Sa. Philippines tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn quần đảo Trường Sa (trừ đảo Trường Sa và bãi Đá Lát ở phía Tây, một số bãi ở phía Nam quần đảo), gọi khu vực nước này tuyên bố chủ quyền là Nhóm đảo Kalayaan. Malaysia tuyên bố chủ quyền một phần phía Nam quần đảo Trường Sa. Bruney cũng cho rằng một phần khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước này. Theo tài liệu của Ủy ban Biên giới quốc gia Việt Nam, Trung Quốc đang chiếm đóng 7 bãi đá tại quần đảo Trường Sa, Đài Loan (Trung Quốc) chiếm đóng đảo lớn nhất trong quần đảo là đảo Ba Bình, Philippines đang chiếm đóng 9 đảo, bãi trong quần đảo Trường Sa, Malaysia đang chiếm đóng 5 đảo, bãi trong quần đảo Trường Sa.
Yêu sách chủ quyền của các nước tại Biển Đông 
          Như vậy, tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông là vấn đề quốc tế, đa phương, khá phức tạp (trong bài này tôi chỉ nêu những tranh chấp liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, không nêu nhiều tranh chấp chủ quyền khác và những tranh chấp không phải về chủ quyền mà về lợi ích). Lâu nay, Trung Quốc không chịu đàm phán quốc tế, đa phương, chỉ muốn đàm phán song phương với từng nước có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc. Lập trường này của Trung Quốc nhằm phục vụ những lợi ích, mưu đồ của họ, nên không được Việt Nam và nhiều nước khác chấp nhận. Thế nhưng tại Việt Nam, một số người lại có hướng cho rằng các vấn đề, sự kiện ở Biển Đông, ở Trường Sa chỉ là vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cách nhìn ấy sẽ dẫn đến những luận giải, phản ứng chưa đúng.

Thái độ của quốc tế

          ASEAN sẽ ủng hộ Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa?
Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc (và Đài Loan, Trung Quốc), không có nước ASEAN nào tranh chấp với Việt Nam, nhưng đến nay chưa có dấu hiệu cho thấy ASEAN sẽ nghiêng hẳn về phía Việt Nam trong cuộc tranh chấp này. Tại quần đảo Trường Sa, ngoài Trung Quốc (và Đài Loan, Trung Quốc), Việt Nam có tranh chấp chủ quyền với 3 nước ASEAN khác, nên càng khó có chuyện ASEAN ủng hộ Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của 3 nước thành viên ASEAN kia.
Trung Quốc triệt để lợi dụng, khai thác việc 4 quốc gia thuộc ASEAN có tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Trường Sa, có mâu thuẫn với nhau về lợi ích tại đây để dụ dỗ từng nước đàm phán riêng lẻ với Trung Quốc. Nếu các nước ASEAN có tranh chấp với nhau về chủ quyền tại Trường Sa không tạm gác tranh chấp, không hợp tác với nhau để đối phó với Trung Quốc mà tìm cách “ăn mảnh”, sẽ chỉ có Trung Quốc được lợi.    

Mỹ sẽ giúp Việt Nam đến mức nào trong các tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông?
          Năm 1974, Mỹ đã làm ngơ, nếu không muốn nói là đã có thỏa thuận ngầm với Trung Quốc, để Trung Quốc chiếm trọn phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa đang có quân đội Việt Nam Cộng hòa, đồng minh của Mỹ canh giữ. Trước đó, Mỹ đã để cho Philippines chiếm giữ nhiều đảo ở quần đảo Trường Sa từ tay đồng minh Việt Nam Cộng hòa.   
          Hiện nay, Mỹ tuyên bố không bênh vực bên nào trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Mỹ phản đối hành động của Trung Quốc bồi đắp đảo nhân tạo ở Trường Sa. Thế nhưng, quan niệm của Mỹ về quần đảo Trường Sa lại có phần giống với quan niệm của Trung Quốc hơn của Việt Nam, có lợi cho Trung Quốc hơn.  
Gần đây một số báo nhắc tới việc, ngày 13/5/2015 Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear nói trong phiên điều trần tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ rằng, Việt Nam đang có 48 điểm đóng quân ở Trường Sa. Thực sự, Việt Nam đang đóng giữ 9 đảo và 12 đá, bãi (đảo chìm) ở Trường Sa, với 33 điểm đóng quân. Vậy ông David Shear đếm sai? Ông ta không đếm sai, mà đã tính cả 15 nhà giàn DK1 ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam vào số cơ sở của Việt Nam ở Trường Sa.
Nhà nước Việt Nam khẳng định, khu vực các nhà giàn DK1 trên các bãi cạn Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế Đường, Vũng Mây, Huyền Trân nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa, hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam, không có tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trong khi đó, Trung Quốc cho rằng quần đảo Trường Sa bao gồm hầu hết phần phía Nam đường lưỡi bò mà họ tùy tiện vẽ ra, có cả khu vực nhà dàn DK1 của Việt Nam. Mỹ cũng cho rằng khu vực các bãi cạn Phúc Tần, Phúc Nguyên, Tư Chính, Quế Đường, Vũng Mây, Huyền Trân thuộc quần đảo Trường Sa. Như vậy, một vùng biển rộng lớn thuộc chủ quyền Việt Nam đã bị Mỹ coi là vùng có tranh chấp. Đây là điều hợp với mong muốn của Trung Quốc, có lợi cho Trung Quốc.

Bản đồ của CIA về quần đảo Trường Sa, bao gồm cả bãi  Phúc Tần (Prince of Wales Bank), bãi  Phúc Nguyên (Prince Consort Bank), bãi Huyền Trân (Alexandra Bank), bãi Quế Đường (Grainger Bank), bãi Vũng Mây (Rifleman Bank) và bãi Tư Chính (Vanguard Bank)
Hơn thế nữa, tháng 5/1992 công ty Crestone Energy của Mỹ đã ký với Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) hợp đồng thăm dò dầu khí ở các lô 133 – 134 – 135 trên thềm lục địa Việt Nam, cạnh bãi ngầm Tư Chính (Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc-21). Cho đến năm 1994, công ty Crestone Energy mới ngưng việc thăm dò ở khu vực bãi Tư Chính, sau khi gặp những phản ứng quyết liệt của Việt Nam. Tuy Chính phủ Mỹ tuyên bố không biết, không liên quan đến hợp đồng giữa công ty Crestone Energy với Trung Quốc, nhưng có cơ sở để tin rằng Crestone ký hợp đồng với CNOOC vì biết Chính phủ Mỹ coi bãi Tư Chính không thuộc chủ quyền Việt Nam. Đến nay, những lời nói của Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ David Shear một lần nữa cho thấy, Mỹ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đến mức nào.   
Khu vực Crestone Energy ký hợp đồng thăm dò với Trung Quốc
  Đã có quốc gia nào chính thức công nhận Việt Nam có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa? Tôi chưa thấy. Cũng chưa thấy quốc tế công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác. 
          
          Thêm:
          Nếu có xung đột vũ trang giữa Việt Nam với Trung Quốc tại Hoàng Sa hay Trường Sa, nếu Việt Nam la rằng Trung Quốc xâm lược, có ai la theo rằng Trung Quốc xâm lược Việt Nam không? Không. Cùng lắm, sẽ có vài tiếng nói lên án Trung Quốc hung hăng gây hấn, sau đó kêu gọi hai bên kìm chế, tránh leo thang xung đột, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp lý quốc tế, vân vân và vân vân. Nhưng nếu ta không khôn khéo xử lý trước sự càn rỡ khiêu khích của đối phương, nóng máu hành động, có khi kẻ bị lên án lại là ta đó.  

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015

ƯU TIÊN NHÀ QUÊ LÀ XÂM PHẠM QUYỀN LỢI NGƯỜI Ở TỈNH!

Có mấy bạn la lối, đòi bỏ chính sách cộng điểm ưu tiên khi tuyển sinh đại học, cho rằng chính sách đó là bất công, xâm hại quyền lợi của thí sinh thành thị.
Thôi, chả nói chuyện “người nhà quê” thiệt thòi, điều kiện ăn, học không bằng “người ở tỉnh”, ối người nói rồi. Chỉ nghĩ tới cảnh vất vả của “nhà quê” mỗi kỳ thi, phải cơm đùm cơm nắm lên “tỉnh”, lo kiếm chỗ tá túc, lo giữ đồ đạc khỏi bị ăn trộm ăn cắp, lo ngộ độc thức ăn, mất ngủ do lạ nhà… Mấy thứ đó khiến “nhà quê” rất mệt mỏi, ảnh hưởng đến việc ôn bài, đến kết quả thi. Điểm thi của “nhà quê” thua điểm thi của “thành thị” một vài điểm chưa chắc do dốt hơn, mà do những lý do trên.

Thực tế, khi vào trường, “nhà quê” học không hề thua kém các bạn ở thành thị.     

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2015

Những kẻ phá hoại

Tây Nam, chưa gì đã có những kẻ nói giọng chiến tranh, nhân danh yêu nước. Rất ghét điều đó. Rất không thích những lời nói về người Campuchia một cách kẻ cả, miệt thị.
Ai làm ơn với bạn, bạn biết ơn họ suốt đời, nhưng kẻ đó cậy đã giúp bạn rồi lên giọng này nọ với bạn, coi bạn như cỏ rác, bạn có thích không, sự biết ơn với người kia có giảm đi không?
Có 3 láng giềng, bạn bảo một người là kẻ thù truyền kiếp, một người bạn cho là khó tin được, một người bị bạn cho là lá mặt lá trái. Với thái độ đó, chắc bạn được 3 người kia và những người khác coi bạn là thiên thần?
Có những người viết rằng xương máu của bao nhiêu người Việt đã hy sinh để diệt chế độ Pol Pot là hoài phí, sao không để bọn diệt chủng đó diệt hết người Khmer đi, đỡ hậu họa. Kinh tởm với suy nghĩ đó. Chính những suy nghĩ kiểu đó, chính những kẻ tán dương việc miệt thị người Campuchia đang phá hoại tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia, thành quả mà xương máu bao người, trong đó có những người bạn, người đồng đội của tôi đã vun đắp.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

Mỹ - Mẽo - Mỹ

70 năm trước, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã chìa tay đề nghị Hoa Kỳ ủng hộ nền độc lập của mình. Nhưng thay vì ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, Mỹ đã giúp đỡ Pháp trở lại đô hộ Việt Nam.
Thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman, ngày 16 tháng 2 năm 1946




DEAR MR. PRESIDENT:
 Our VIETNAM people, as early as 1941, stood by the Allies' side and fought against the Japanese and their associates, the French colonialists.
From 1941 to 1945 we fought bitterly, sustained by the patriotism, of our fellow-countrymen and by the promises made by the Allies at YALTA, SAN FRANCISCO and POTSDAM.
 When the Japanese were defeated in August 1945, the whole Vietnam territory was united under a Provisional Republican Government, which immediately set out to work. In five months, peace and order were restored, a democratic republic was established on legal bases, and adequate help was given to the Allies in the carrying out of their disarmament mission.
But the French Colonialists, who betrayed in wartime both the Allies and the Vietnamese, have come back, and are waging on us a murderous and pitiless war in order reestablish their domination. Their invasion has extended to South Vietnam and is menacing us in North Vietnam. It would take volumes to give even an abbreviated report of the crisis and assassinations they are committing everyday in this fighting area.
 This aggression is contrary to all principles of international law and the pledge made by the Allies during World War II. It is a challenge to the noble attitude shown before, during, and after the war by the United States Government and People. It violently contrasts with the firm stand you have taken in your twelve point declaration, and with the idealistic loftiness and generosity expressed by your delegates to the United Nations Assembly, MM. BYRNES, STETTINIUS, AND J.F. DULLES.
 The French aggression on a peace-loving people is a direct menace to world security. It implies the complicity, or at least the connivance of the Great Democracies. The United Nations ought to keep their words. They ought to interfere to stop this unjust war, and to show that they mean to carry out in peacetime the principles for which they fought in wartime.
Our Vietnamese people, after so many years of spoliation and devastation, is just beginning its building-up work. It needs security and freedom, first to achieve internal prosperity and welfare, and later to bring its small contribution to world-reconstruction.
 These security and freedom can only be guaranteed by our independence from any colonial power, and our free cooperation with all other powers. It is with this firm conviction that we request of the United Sates as guardians and champions of World Justice to take a decisive step in support of our independence.
What we ask has been graciously granted to the Philippines. Like the Philippines our goal is full independence and full cooperation with the UNITED STATES. We will do our best to make this independence and cooperation profitable to the whole world.

I am Dear Mr. PRESIDENT,
Respectfully Yours,
 Ho Chi Minh



Ngài Tổng thống kính mến:
 Người Việt Nam chúng tôi ngay từ năm 1941 đã đứng về phía quân Đồng Minh để chống lại quân Nhật và chư hầu của họ là thực dân Pháp.
 Từ năm 1941 đến 1945, chúng tôi đã chiến đấu quyết liệt dựa trên tinh thần ái quốc của những đồng bào, đồng chí của chúng tôi và bởi những thoả ước được vạch định bởi Đồng Minh tại Yalta, San Francisco và Postdam.
 Khi quân Nhật bị đánh bại vào tháng 8 năm 1945, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được thống nhất dưới Chính Phủ Cộng Hoà lâm thời và cơ cấu chính phủ được tổ chức hoạt động ngay lập tức. Trong vòng năm tháng, hoà bình và trật tự đã được lập lại, một nền cộng hoà dân chủ đã được thiết lập trên những cơ sở pháp lí, và mang đến sự hỗ trợ thoả đáng cho phía Đồng Minh trong việc thực thi nhiệm vụ giải trừ quân bị.
 Nhưng thực dân Pháp, những người trong thời gian chiến tranh đã phản bội cả quân Đồng Minh và người Việt Nam, đã quay trở lại và đang bắt đầu một cuộc chiến dã man tàn bạo chống lại chúng tôi nhằm thiết lập lại sự thống trị của họ. Cuộc xâm lược của họ đã mở rộng xuống miền nam Việt Nam và đang uy hiếp trực tiếp chúng tôi tại bắc Việt Nam. Sẽ là những minh chứng hùng hồn ngay bây giờ nếu đưa ra một thông báo tóm lược về những cuộc khủng hoảng và tàn sát mà họ đang gây ra mỗi ngày trong vùng chiến sự.
 Cuộc xâm lược này hoàn toàn trái ngược với những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và cam kết của Đồng Minh trong suốt thế chiến thứ Hai. Đó là một sự thách thức đối với những quan điểm tiến bộ của chính phủ và nhân dân Hoa Kì trước, trong suốt và sau chiến tranh. Nó hoàn toàn trái ngược hoàn toàn với quan điểm nhất quán mà ngài đã đề ra trong tuyên bố 12 điểm, và trái ngược với tinh thần cao thượng, khoan dung được bày tỏ bởi những người đại diện của ngài tại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Mm. Byrnes, Stettinius, và J.F. Dullas.
 Cuộc xâm lược của người Pháp đối với nhân dân yêu chuộng hoà bình là một mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh thế giới. Điều đó bao hàm sự đồng loã hoặc chí ít là sự thoả hiệp của Nền Dân Chủ Vĩ Đại. Liên Hiệp Quốc nên giữ lời hứa của họ. Họ nên ngăn chặn để chấm dứt cuộc chiến phi nghĩa này và cho thấy họ có ý định thực thi trong thời bình những nguyên tắc cơ bản mà vì nó họ đã chiến đấu trong thời chiến.
 Người Việt Nam chúng tôi sau nhiều năm bị cưỡng đoạt và tàn phá, hiện đang bắt đầu công cuộc tái thiết đất nước. Việc đó đòi hỏi an ninh và hoà bình, trước hết là để đạt được sự ổn định và thịnh vượng từ bên trong, và sau là để đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc tái thiết lại thế giới.
An ninh và hoà bình như vậy chỉ có thể được bảo đảm với sự độc lập của chúng tôi từ bất kì một thế lực thực dân nào cùng với sự cộng tác không bị ràng buộc với tất cả các cường quốc khác. Với sự tin tưởng vững chắc như vậy, chúng tôi đề nghị Hoa Kì trong vai trò những người chiến sĩ bảo vệ công lý thế giới có những biện pháp quyết định trong việc trợ giúp nền độc lập của chúng tôi.
 Những đòi hỏi giống như của chúng tôi đã được chấp nhận tại Phillipines. Giống như Phillippines, mục đích của chúng tôi là một nền độc lập tự chủ hoàn toàn và một mối liên minh toàn diện với Hoa Kì. Chúng tôi sẽ làm tất cả để mang lại lợi ích từ nền độc lập và liên minh này đến toàn thế giới.

Thân mến, Ngài Tổng Thống
Trân trọng đến Ngài

Hồ Chí Minh

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Nhớ Bố và hai Anh

  Buổi tối mùa hè ngột ngạt nóng, đứng gió. Bỗng ánh chớp lóe lên, rồi tiếng sét giật kinh hồn. Mưa ập xuống. Điện tắt. Bố lấy đèn pin, mặc áo mưa, đeo cái túi Mẹ khâu bằng vải cũ, bước ra ngoài màn đêm, trong làn nước mưa quất ràn rạt. Vài giờ sau Bố về, trong túi đầy ếch và nhái Bố bắt ở đồng Yên Phúc, đồng Xa La. Dù có áo mưa nhưng người Bố vẫn ướt sũng, những ngón tay Bố nhăn nheo vì ngâm nước. Cũng có khi Anh Tuấn, khi ấy khoảng 14 – 15 tuổi đi bắt ếch với Bố. Ếch chặt miếng để kho, còn nhái mẹ băm nhỏ trộn với lá lốt, làm chả. Trong bữa ăn, Bố hay kể chuyện ngày Bố còn nhỏ, nhỏ như Anh Tuấn khi đó. Mùa gặt, Bố theo người làng lên tận Thái Nguyên gặt lúa thuê. Mùa đông, Bố đi bắt ốc, đánh giậm bắt tép ở những khu đồng trũng, ao. Trời rét cắt da mà vẫn phải lội nước, có khi lạnh quá chim teo đâu mất, Bố kể và cười.
  Năm 1989, Huy Toàn vừa đầy năm, Bố đi xe khách từ Hà Đông vào Tuy Hòa thăm cháu nội. Đến Hương Trà ở Thừa Thiên – Huế, xe bị lật xuống ruộng nước bên đường. Lúc đó Bố đã 65 tuổi, bị người ta dẫm đạp lên, nằm trong nước mãi mới dậy nổi. Lên được đường nhựa, sợ xe khách chạy ẩu, Bố vẫy xe tải xin đi nhờ. Nhưng đến Quảng Nam, xe Bố xin đi nhờ lại bị tai nạn… Khi trở ra, Bố đi tàu hỏa, không đi xe khách nữa.
  Tháng 6/2004, con cháu từ Nha Trang ra Hà Đông. Bố ôm lấy Huy Toàn, ôm lấy Phương Anh, nói vui quá, mà nước mắt Bố giàn giụa. Ai ngờ, chỉ mấy ngày sau Bố đi xa.
 Một sớm mùa hè năm 1994, cả nhà còn đang ngon giấc trong căn nhà ở hẻm nhỏ gần biển Tuy Hòa, bỗng nghe tiếng Anh Tuấn gọi Quân ơi, Tuyến ơi. Mở cửa nhìn ra, ngỡ ngàng thấy Anh Tuấn đang đứng ở cổng. Ngày ấy, Bố thấy vợ chồng con trai chỉ có chiếc giường ọp ẹp, nên mua gỗ, gọi thợ đóng một chiếc giường. Chị Tuyết gửi từ Nga về một chiếc xe Suzuki Birdie 50 cũ, Anh Tuấn sửa lại ngon lành để gửi cho thằng em, lúc đó chỉ có chiếc xe đạp. Có người bạn Anh Tuấn chạy xe tải vào miền Nam, Anh Tuấn gửi chiếc giường Bố đóng và chiếc Suzuki Birdie, Anh cũng theo xe. Xe vào đến Tuy Hòa lúc nửa đêm. Khi đó, nhà em vừa chuyển, Anh có địa chỉ nhưng nhà trong hẻm khó tìm, lại giữa đêm khuya, chẳng có điện thoại để gọi. Anh Tuấn xin anh trực bảo vệ ở cổng trường Ngân hàng bên đường Nguyễn Huệ cho để nhờ cái xe máy và chiếc giường, rồi ngồi chờ trời sáng để đi tìm nhà em…

Anh Tuân không đi bắt ếch với Bố như Anh Tuấn, nhưng hay đi mò trai, mò trùng trục ở sông Nhuệ, đi bắt cua ở đồng Xa La. Từ khi em 10 tuổi, em cũng hay đi mò trai, đi bắt cua với Anh. Sông Nhuệ khi đó còn là dòng nước phù sa màu mỡ, không tù đọng hôi thối như bây giờ. Hai anh em, mỗi đứa ôm một cái chậu đi dưới lòng sông, lấy chân rà, thấy trai thì ngụp xuống móc lên. Để bắt trùng trục thì lội ven bờ sông, dùng cái rổ xúc phù sa lên, chà rửa cho phù sa trôi đi, còn trùng trục hoặc hến ở lại. Chị Tuyết cũng hay đi bắt trùng trục, bắt hến.
Đi bắt cua, hai anh em thường đi ra đồng làng Xa La sau khi ăn cơm trưa. Trời nắng nóng, cua hay ngoi lên bờ. Nhưng cũng có nhiều con chui trong hang sâu ở bờ ruộng. Thấy có “mà”, là đám bùn đùn ra lấp cửa hang, hầu như chắc chắn trong đó có cua cái. Hang không có “mà”, có khi không có cua, mà có chú rắn nước ở trong. Hai anh em đều từng có lần bị rắn nước cắn khi thọc tay vào hang, ngưa ngứa một lúc rồi hết. Bị cua cắp là chuyện quá thường. Cũng có lúc anh em làm cái móc bằng dây thép để móc cua ra, không cần dùng tay thọc vào hang. Nhưng em móc không khéo, hay làm rách con cua, nên vẫn quen dùng tay. Có hôm hai anh em mang theo cái lọ thủy tinh, để bỏ những con cá săn sắt bắt được. Trời nắng nóng, cá săn sắt phun bọt thành cái mái che nắng, rồi núp dưới cái mái bọt. Vọc tay nhanh dưới mái bọt ấy là bắt được chú cá săn sắt. Mang về nuôi, các chú đẹp và chọi hay không kém cá chọi.

Bố và hai Anh đều đã đi xa. Hôm nay là giỗ Bố, con lại nhớ những kỷ niệm xưa. Nhớ khi cả nhà quây quần bên mâm cơm có chả nhái. Nhớ những đêm trời nóng mà mất điện, bố quạt cho con ngủ. Nhớ khi Bố mắng vợ chồng con, chúng mày nuôi con thế nào mà chúng nó gầy như con mắm thế kia. Nhớ khi Anh Tuấn vào Tuy Hòa, đêm ngủ cùng Huy Toàn, lâu lâu cháu lại ngồi dậy nhìn lom lom vào mặt bác, nói bác giống bố cháu i sì. Nhớ khi Anh Tuân vào thăm chúng em ở Nha Trang, lúc đó nhà em chưa sửa lại, chỗ gường Anh nằm bị dột khi mưa, phải lấy áo mưa phủ lên màn…    


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Những trải nghiệm, thấu cảm ở Trường Sa

          Tôi đã đi công tác tại Trường Sa 5 lần. Mỗi chuyến đi là một lần trải nghiệm, để hiểu thêm nỗi gian truân, lòng can trường của những người lính nơi đầu sóng, để thấu cảm sự thiệt thòi, hy sinh thầm lặng của những người phụ nữ ở hậu phương.

Lính đứng vời trông, lệch cả đảo chìm

Tháng 4/1996, lần đầu tiên tôi được đi thăm Trường Sa. Trừ khu vực giữa đảo có một số cây xanh, hầu khắp đảo Trường Sa là những căn nhà lợp tôn trên nền cát san hô, trắng nhức mắt dưới cái nắng thiêu đốt. Đảo Trường Sa Đông bây giờ rộng rãi, rợp bóng cây xanh, nhưng lúc đó nhỏ không bằng một sân bóng, hầu như không một bóng cây. Ở các đảo chìm Đá Tây, Đá Lát, Đá Đông, bộ đội ở trong những ngôi nhà lâu bền xấu xí, như những chiếc lô cốt, bên cạnh vẫn còn nhà cao chân dựng từ năm 1988, nay dùng để trồng rau. Những mảnh “ruộng rau” bé bằng chiếc chiếu, được lính đảo che chắn kỹ, vừa ngăn gió vừa ngăn chuột. Chỉ tiêu ăn rau muống, rau mồng tơi hàng ngày của cả đảo được tính bằng từng ngọn, từng lá. Đại úy Đỗ Quốc Bình, đảo trưởng đảo Trường Sa Đông nói, mỗi ngày lính đảo được hơn chục lon Pepsi. Sang thế? Nhưng đó là lon Pepsi để đong định suất nước hàng ngày cho mỗi người… 
Cánh nhà báo thường được đi chuyến xuồng đầu tiên từ tàu vào đảo. Xuồng còn cách mép nước hàng chục mét, lính đảo đã lội nước ào ra để kéo xuồng cập đảo. Những nụ cười tươi, những cái ôm thật chặt. Nhưng sau đó, ánh mắt lính đảo lại đăm đắm hướng ra chuyến xuồng sau. Trên tờ báo tường của đảo Đá Đông, tôi đọc thấy câu thơ: “Đoàn văn công theo con tàu đang tới, lính đứng vời trông, lệch cả đảo chìm…” Chỉ khi thấy rõ các cô gái văn công trên xuồng, niềm vui của họ mới bùng ra hết cỡ. Cả năm trời chỉ có mấy “thằng” với nhau, lính đảo khát khao được thấy, được nắm tay một cô gái, được nghe một giọng nói dịu dàng. Nhưng khi văn công lên đảo rồi, các anh lại trở lên vụng về, không dám làm quen. “Nhiều anh cứ ngồi nhìn, chẳng nói gì chỉ say sưa ngắm bọn em thôi, thương lắm.” Thanh Thủy, Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị nói với tôi.   

Tấm lòng với người đã khuất

          Tháng 3/2009, thấy một số người nói rằng sự kiện ngày 14/3/1988 tại các đảo Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin bị giấu nhẹm, tôi chụp ảnh toàn bộ các bài viết trên báo Nhân Dân từ tháng 2/1988 đến tháng 4/1988 về việc Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa năm 1988, đưa lên blog của tôi. Trong đó, có danh sách 74 người hy sinh và bị coi là mất tích trong sự kiện 14/3/1988, được đăng ở báo Nhân Dân số ra ngày 28/3/1988 (sau này, Lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân cung cấp cho tôi danh sách chính thức 64 liệt sĩ đã hy sinh ngày 14/3/1988). Trong những người lính đã kết thành “vòng tròn bất tử” trên đảo Gạc Ma, có liệt sĩ Võ Đình Tuấn, quê ở thôn Phú Hữu (xã Ninh Ích, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa).
Ngày 22/12/2010, trước khi được ra Trường Sa lần thứ hai, tôi tìm về thôn Phú Hữu. Cụ Võ Ta, cha của liệt sĩ Võ Đình Tuấn tự tay viết và trao cho tôi một lá thư gửi hương hồn người con trai mãi mãi tuổi hai mươi. Sáng 12/1/2011, tại vùng biển cạnh đảo Gạc Ma, trong lễ tưởng niệm những người con đất Việt hy sinh ngày 14/3/1988, trên một chiếc xuồng nhỏ, tôi đọc to rồi hóa vàng lá thư của cụ Võ Ta: “Cha mẹ Võ Ta – Phan Thị Đay tưởng nhớ con Tuấn đã hy sinh ở Trường Sa ngày 14/3/1988. Mong linh hồn con siêu thoát.” Gió cuốn tro thư bay lên cao trước khi hòa vào sóng nước Trường Sa. Ngửa mặt lên trời, tôi thấy như mây trắng quần tụ lại, thành những dáng người đang nhìn xuống, cảm giác như Võ Đình Tuấn và các đồng đội của anh đã nhận được thư của cha mẹ anh. Bài trên báo Tiền Phong, clip bản tin của VTV1 về lễ tưởng niệm được tôi đưa lên blog, với niềm tin: “Không ai bị lãng quên, không điều gì bị lãng quên!”   
     Phóng viên Nguyễn Đình Quân đọc thư của cụ Võ Ta gửi liệt sĩ Võ Đình Tuấn, tại lễ tưởng niệm ngày 12/1/2011
Do trái tim mách bảo hay hương hồn anh Tuấn mách bảo, chị D., người yêu xưa của anh Tuấn đã thấy ảnh anh ở blog của tôi. Hai người chưa một lần nắm tay nhau, chưa từng có một nụ hôn, nhưng hình bóng Tuấn vẫn không phai mờ trong tâm trí D. “Nhiều khi, D. hy vọng Tuấn không hy sinh, đang ở một nơi nào đó. Một buổi sáng, Tuấn sẽ xuất hiện trước mặt D., vóc người tầm thước, nước da ngăm đen, mái tóc quăn, nụ cười chân chất...” D. chat với tôi. Câu chuyện về tình cảm của chị D. dành cho anh Tuấn đã được kể trong bài báo “Muốn ra nơi sóng đã cuốn Tuấn đi”, đăng trên báo Tiền Phong và báo Khánh Hòa trong tháng 5/2011. Chưa được ra nơi sóng đã cuốn Tuấn đi, cuối năm 2011 chị D. đã nhờ tôi và đồng nghiệp gửi vào lòng biển Gạc Ma những kỷ vật tình yêu của anh chị.  
         
Những sự hy sinh âm thầm, lớn lao
         
Sáng 18/1/2011, khi đón anh em hoàn thành nhiệm vụ ở đảo Tiên Nữ ra tàu Trường Sa 22, chúng tôi đã trải qua những phút lo lắng đến thắt lòng. Mấy lần xuồng công tác kéo xuồng chuyển tải vượt mép xanh (vùng rìa bãi cạn san hô tiếp giáp biển) đều bị sóng hất dựng ngược, chết máy. Anh em trên đảo phải mặc áo phao, lội nước ra kéo hai xuồng trở vào. Cố gắng vượt mép xanh ở hướng khác, xuồng công tác bị sóng đánh chìm. Tàu Trường Sa 22 phải cấp tốc hạ xuồng cứu sinh, kéo hai xuồng về tàu. Khi lên tàu, Đại úy Nguyễn Duy Bá, Chính trị viên đảo Tiên Nữ nói với tôi: “Chúng tôi ở đảo vất vả chút, nhưng thấm gì so với vợ ở nhà. Mọi việc gia đình, hiếu hỉ, nuôi dạy con đều một tay vợ lo toan hết.” Có những người vợ vừa phải chịu đựng nỗi cô đơn hàng năm trời, vừa phải chịu những điều thị phi đối với người phụ nữ vắng chồng, sự hy sinh, thiệt thòi của họ khó có thể diễn tả hết bằng lời…

Chị Trần Thị Loan tiễn chồng, trung úy Bùi Minh Nam, ngày 2/1/2013             
Chiều 28/12/2010, ở quân cảng Cam Ranh, tôi chứng kiến cảnh Trung úy Bùi Minh Nam chia tay vợ con, trước khi anh lên đường ra đảo Song Tử Tây. Cậu con trai Bùi Minh Đức mới 2 tuổi, chưa hiểu gì về sự chia ly, cứ vô tư chào kiểu con nhà binh với mọi người. Trong khi đó, vợ Trung úy Nam là chị Trần Thị Loan thỉnh thoảng lại lấy khăn tay lau nước mắt, đôi mắt đỏ hoe. Chiều ngày 2/1/2013, tôi lại gặp đôi mắt đỏ hoe ấy. Sau ít ngày về đất liền, trung úy Bùi Minh Nam lại ra Trường Sa, lần này anh làm nhiệm vụ tại đảo Nam Yết. Vợ chồng họ lại phải xa nhau, đằng đẵng... Khi đoàn tàu rời bến đưa những người lính ra đảo xa, nhiều phụ nữ, nhiều cô gái thẫn thờ dõi mắt trông theo, những cặp uyên ương vừa vẫy tay chào vừa nói với nhau qua điện thoại, miệng cười mà mắt ướt. Những gương mặt buồn, những đôi mắt ngấn nước ấy nhắc tôi rằng, để giữ gìn bờ cõi Tổ quốc, đã có biết bao sự hy sinh âm thầm, lớn lao.  
 
Chị Trần Thị Hiền cùng hai con trai đi đón chồng chị, Trung tá Phạm Văn Lợi trở về bến cảng Cam Ranh ngày 26/1/2011, sau 18 tháng làm nhiệm vụ tại đảo Song Tử Tây

Liên quan: Hy Sinh 
Nguyễn Đình Quân 

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2015

Nụ cười sẽ hóa giải tất cả

 “Bí quyết để thầy đã 91 tuổi mà vẫn minh mẫn là không giận ai quá ba phút. Giữ hòa khí dễ lắm, chỉ có một chút xíu thôi. Khi thầy thấy sắp nổi xung với ai đó, thầy đi ra ngoài thở thật sâu, uống ba ngụm nước mát, rồi gắng mỉm cười chút xíu. Nụ cười trên môi sẽ hóa giải tất cả.”
Giáo sư Trần Văn Khê và Nguyễn Đình Quân, ngày 14/5/2011
Sáng ngày 14/5/2011, Giáo sư Trần Văn Khê đến trường THPT Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa dự buổi giao lưu “Văn hóa ứng xử học đường”. Khi ấy Giáo sư Trần Văn Khê đã 91 tuổi, phải ngồi xe lăn nhưng vẫn trò chuyện với học sinh khá nhiều, ý tứ rành mạch, giọng nói của Giáo sư rõ ràng, lưu loát, ấm và khỏe. Theo Giáo sư Trần Văn Khê, mọi người cùng ứng xử với hòa khí thì chuyện gì cũng có thể nói được với nhau, tạo được sự thân thiện, không có hận thù, không có xung đột. “Cuộc sống như tấm kiếng, người cười với tấm kiếng sẽ thấy kiếng cười với mình, nhăn với kiếng thì kiếng sẽ nhăn lại mình”.  
Học sinh trường THPT Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa xin chữ ký Giáo sư Trần Văn Khê, ngày 14/5/2011