Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: XI - Hát mãi cho Trường Sa


 “Trường Sa là mảnh đất nóng ở thời bình, gần 30 năm qua, nhiều kỷ niệm với Trường Sa lắm, được hát về Trường Sa là vinh dự lớn lắm.” Ca sĩ Anh Đào tâm sự. 
 Ca sĩ Anh Đào
Tình cảm thấm từng lời hát
 “Mỗi cánh thư về từ đảo xa, anh thường nói rằng, Trường Sa lắm xa xôi…”, bài hát đầu tiên về Trường Sa được Anh Đào hát là bài “Gần lắm Trường Sa”, nhạc sĩ Hình Phước Long sáng tác năm 1982. Anh Đào là người đầu tiên hát bài này, đến nay vẫn được coi là người hát hay nhất. Bén duyên với Trường Sa từ đó, đến nay đã gần 30 năm.  
Cuốn nhật ký của Anh Đào về Trường Sa bắt đầu được ghi chép năm 1984, năm đầu tiên Anh Đào ra Trường Sa. Xuồng chuyển tải bị sóng đập dềnh lên sụp xuống, người trên tàu phải lựa lúc thuận tiện nhất để nhảy xuống xuồng, tránh bị kẹp giữa xuồng và mạn tàu. Bộ đội lội ra bãi san hô nước tới cổ, kéo xuồng vào đảo. “Có đảo, xuồng không cập vào được vì sóng lớn, hai anh hai bên xốc mình, hô một, hai, ba rồi quăng xuống cho người ở dưới đỡ, như quăng hàng vậy”. Anh Đào cười, kể lại. Lính đảo, ai cũng đen sạm như nhau, quần áo loang lổ vệt muối trắng do giặt bằng nước biển, nhưng nụ cười thật sáng. Đi giữa những nụ cười chiến sỹ như đi giữa rừng hoa phong ba vậy.
Trên đảo Nam Yết đẹp như một làng quê, khi chiến sỹ đi tuần, Anh Đào đi sau, bước lên từng dấu chân của họ in trên cát. Ở đảo Trường Sa khi đó có mộ của một số liệt sỹ, chưa đưa được về đất liền. Những ngôi mộ đơn sơ nằm giữa vạt hoa muống biển, nhiều khi bị sóng trùm lên. Viếng mộ liệt sĩ, cô ca sĩ trẻ cứ ôm vai người bên cạnh mà khóc. Buổi chiều, chiến sỹ tụ tập hết ở bờ tây đảo khiến Anh Đào ngạc nhiên. Sao các anh không ra bờ đảo vào buổi sáng lúc có nắng ban mai, lại ra lúc chiều, trời hanh nắng? “Mặt trời lặn ở đằng Tây, hướng đó là quê nhà, bọn anh ra đây nhìn về quê nhà, nhớ về người thân!” Anh Đào nghẹn lời khi kể lại tâm sự của lính đảo. Chia tay, Anh Đào cứ nắm mãi những bàn tay chai sạn của các chiến sỹ, không muốn rời. Lạ thay, cái mùi khét nắng từ đầu tóc, từ quần áo của họ, sao mà thân thương, sao mà quyến luyến.
  Ít ngày ở Trường Sa khiến Anh Đào thật sự đồng cảm với những người lính đảo. Chị hát “Gần lắm Trường Sa” càng hay hơn, tình cảm gắn bó chân thật với Trường Sa thấm vào từng lời hát.

Hát bao nhiêu cũng chưa đủ
Tháng 4-1988, máu vừa đổ ở vùng biển đảo Gạc Ma - Cô Lin - Len Đao, đài, báo vừa đăng tải danh sách 74 người hy sinh, mất tích. Đoàn ca múa Hải Đăng thông báo đi Trường Sa, nhiều ca sỹ lấy lý do con nhỏ, đau ốm để thoái thác. Anh Đào nghĩ, chính lúc này là lúc bộ đội Trường Sa cần nhiều nhất sự động viên, chia sẻ của của mọi người ở đất liền. Sau chuyến đi năm 1984, Anh Đào vẫn mong được quay lại Trường Sa, về với Trường Sa. Xin được đi Trường Sa, Anh Đào mua thật nhiều xoài, cà phê, thuốc lá mang ra tặng chiến sỹ. Chuyến đi năm 1988 là chuyến đi nhiều nước mắt của Anh Đào, lệ ứa cả khi đang cười cùng lính đảo. Anh Đào và ca sỹ Thanh Thanh cùng mang theo kim chỉ để tranh thủ khâu áo cho anh em, vừa khâu vừa hát để kìm bớt cảm xúc. Nhưng nhìn chiến sỹ đang nghe, đang ngắm, như uống từng lời hát, nước mắt các chị cứ chực trào ra.
Tại đảo Trường Sa, có lần Anh Đào đang chỉnh lại trang phục ở phòng riêng, chuẩn bị ra hát ở nơi biểu diễn cách đó chừng trăm mét, bỗng nghe tiếng rên ở phòng bên. Chạy qua, Anh Đào thấy một anh đang nằm, sốt cao lắm. Anh tên là Vinh, đảo phó, ra Trường Sa đã 4 năm, uống nước giếng san hô nên nhiễm bệnh. Anh Đào lấy khăn dấp nước đắp cho anh, rồi ra hát cho mọi người. Hát xong, chị chạy về, vừa quạt vừa hát cho anh Vinh. Biết anh ở khu Bốn, Anh Đào hát bài “Giận thì giận, thương thì thương” rồi “Người ơi người ở đừng về”, vừa hát vừa khóc… 
Anh Đào và chiến sĩ đảo Phan Vinh, tháng 5-1988, ảnh của Nguyễn Viết Thái

Lên đảo, anh em chiến sỹ yêu cầu hát về vùng quê nào, Anh Đào, Thanh Thanh và cố nhạc sĩ Xuân An hát về vùng quê đó. “Hát bao nhiêu cho chiến sỹ Trường Sa, cũng chưa đủ, chưa xứng với tình cảm các anh dành mình.” Anh Đào tâm sự. Khi lên đảo An Bang, Anh Đào bị xỉu vì say sóng, tỉnh dậy thấy đang nằm trên miếng ván lót trên mấy can sắt. Còn đang váng vất, Anh Đào giật mình khi thấy một anh đến ngồi cạnh chị, đưa tay xuống dưới “giường”. Anh kéo ra một can màu trắng loại 5 lít đựng nước, pha sữa cho chị. Ngày đó, tiêu chuẩn mỗi người trên đảo chỉ được 5 lít nước, lại còn tiết kiệm mỗi người nửa lít để tưới cây bàng đầu tiên trồng trên đảo…
Đêm ở đảo Phan Vinh, đang hát Anh Đào thấy mọi người chuyền tay nhau đưa chị một gói giấy xi măng. Hát xong, chị vô hậu trường, giở gói giấy thấy có 3 cái trứng chim biển và mẩu giấy nhỏ ghi “trứng chim biển đã luộc chín rồi, gửi cho ca sỹ Anh Đào ăn nhé”. Chị khóc vì hạnh phúc. Đêm đó, đang ngủ bỗng nhiên chị nghe tiếng reo hò, giật mình tỉnh dậy, thấy mấy chục chiến sỹ đang tắm mưa, như một bầy trẻ quê. Trời ơi, nửa đêm tắm mưa, cảnh chỉ có ở Trường Sa. Anh Đào lại không kìm được nước mắt.

Người của Trường Sa
Sau lần Anh Đào ra Trường Sa lần thứ hai năm 1988, chồng chị bảo chị chuyển ngành, không đi hát nữa. Khi đó con trai chị mới hơn 3 tháng tuổi. Chị xin anh cho ba đêm để suy nghĩ. Đồng nghiệp kể, khi họ ra Trường Sa, chiến sỹ đều hỏi có ca sỹ Anh Đào không. Ai cũng ước được lính Trường Sa yêu mến như mình, sao mình lại nghỉ hát, lại không được ra Trường Sa nữa. Chị nói với anh, không thể chuyển ngành. Anh ấy buồn, những lần chị đi hát, tình cảm của anh ấy giảm dần. Anh đi làm ăn xa, xa dần… Từ đó, Anh Đào nuôi con một mình. Năm 2002 và năm 2004, chị lại ra với Trường Sa. Dịp Tết Giáp Thân (2004), cầu truyền hình được tổ chức tại đảo Trường Sa, Anh Đào được ăn Tết với chiến sỹ trên đảo, được đón tuổi mới ở Trường Sa. Tối 21-3-2010, chương trình truyền hình trực tiếp “Triệu trái tim hướng về biển đảo Tổ quốc” tổ chức tại Quân cảng Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, Anh Đào lại được mời hát về Trường Sa. “Trường Sa là mảnh đất nóng ở thời bình, gần 30 năm qua, nhiều kỷ niệm với Trường Sa lắm, được hát về Trường Sa là vinh dự lớn lắm.” Chị tâm sự. 
Nhiều người hỏi, sao Anh Đào không là nghệ sỹ ưu tú. Nhưng đối với Anh Đào, được gọi là “ca sỹ của Trường Sa” là danh hiệu lớn nhất, vinh dự lớn nhất của chị. Khi hát về Trường Sa, Anh Đào không coi mình là ca sỹ, chiến sỹ Trường Sa không phải là khán giả. Chị là người của Trường Sa, đang trở về quê hương của mình, chia sẻ tình cảm với người thân của mình.   
Anh Đào (thứ ba bên trái), ca sĩ Thanh Thanh (đeo kính) và cố nhạc sĩ Xuân An (giữa hai ca sĩ) ở đảo Trường Sa Lớn, tháng 5-1988, ảnh của Nguyễn Viết Thái
Ngồi trò chuyện với chúng tôi, Anh Đào hay nhắc lại những lần đi qua đảo Gạc Ma, dự lễ thả vòng hoa tưởng niệm những chiến sỹ đã hy sinh ở đó. “Các anh ấy còn trẻ lắm, mãi không được về với người thân. Khi đến đó, Anh Đào luôn cầu mong cho Trường Sa mãi mãi bình yên, để những đứa con của Tổ quốc không còn phải ngã xuống nữa.” Chị hát “Thương nhớ sao vơi người chiến sĩ Trường Sa ơi. Không xa đâu Trường Sa ơi, không xa đâu, ơi Trường Sa ơi…”, những giọt lệ lại lăn dài trên má.  

http://www.tienphong.vn/xa-hoi/phong-su/545092/Hat-mai-cho-Truong-Sa-tpp.html 


Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: X - Nhạc sĩ của Trường Sa


Tôi là người con quê hương Nha Trang – Khánh Hòa, hiện định cư tại Úc nhưng luôn hướng về Tổ quốc. Có rất nhiều ca khúc giúp chúng tôi thêm yêu quê hương, trong đó ca khúc “Gần lắm Trường Sa” với ca từ, giai điệu thật mượt mà, sâu lắng, có giá trị rất lớn... Trích thư của bà Huỳnh Thị Qua, Việt kiều Úc gửi nhạc sĩ Hình Phước Long.

Gần lắm Trường Sa
Năm 1980, nhạc sĩ Hình Phước Long đang là cán bộ Phòng Văn hóa Thông tin huyện Cam Ranh, tỉnh Phú Khánh (nay là thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa). Ông được Lữ đoàn 146 – đơn vị bảo vệ quần đảo Trường Sa mời giúp làm chương trình dự hội diễn văn nghệ quần chúng của tỉnh. “Lúc đó, hiểu biết của tôi, và của mọi người nói chung về Trường Sa còn mù mờ lắm.” Nhạc sĩ nói. Tại Lữ đoàn 146, ông được những người lính vừa từ đảo về kể chuyện cuộc sống nơi đảo xa, được Lữ đoàn trưởng Cao Ánh Đăng cho xem phim tài liệu Tổ quốc trên một vùng đảo nhỏ của Xưởng phim Tài liệu Quân đội. Ấn tượng về những người lính xạm đen vì nắng gió bảo vệ vùng đảo nhỏ giữa biển khơi, ông ghi vào sổ lưu niệm của Lữ đoàn: sẽ viết một bài hát về Trường Sa.
Ấp ủ mãi, đến năm 1982 khi dự trại sáng tác nhạc của tỉnh Phú Khánh, nhạc sĩ Hình Phước Long mới viết được bài hát về Trường Sa. Một chiều, đang đạp xe trên đường Trần Phú, Nha Trang, ông thấy một cô gái mặc áo dài đang đứng trông ra biển. Nhìn dáng vẻ tư lự, mái tóc thề của cô gái, ông chợt nghĩ, nếu có người yêu đang ở Trường Sa, cô gái có nghe được tâm sự của người lính gửi về qua làn sóng biếc? Nhạc sĩ nhớ câu ca dao, mẹ ông thường hát ru: “Khi xa sát vách cũng xa, khi gần muôn dặm đường xa cũng gần.” Một giai điệu chợt vang lên, “không xa đâu Trường Sa ơi, không xa đâu Trường Sa ơi!” Ông ghi vội giai điệu đó vào tờ giấy trong túi áo, rồi bắt xe đò về nhà mẹ ông ở Ninh Hòa. Tranh thủ trời chưa tối, ông mang chiếc ghế đẩu tròn ra trước sân để viết, bảo mẹ chờ cơm. Ấp ủ đã hai năm, nay có tứ, có mạch cảm xúc, chỉ sau một giờ ông đã hoàn thành bài hát Gần lắm Trường Sa. Bài hát được phát trên Đài Phát thanh Phú Khánh và đưa vào băng cassette “Nha Trang biển hẹn”, lan khắp cả nước. Đến nay, Gần lắm Trường Sa vẫn là một trong những bài hát về Trường Sa được nhiều người ưa thích nhất.

BàiViết bằng tâm hồn, cảm xúc thật
Năm 1983, sau khi huyện đảo Trường Sa được chuyển từ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về thuộc tỉnh Phú Khánh, tỉnh tổ chức đoàn công tác đi nhận bàn giao. Nhạc sĩ Hình Phước Long đang nằm viện, được Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Phú Khánh Cung Giũ Phú động viên viết một bài hát nữa về Trường Sa. “Vượt trùng sóng biển khơi, em gặp anh giữa đảo, biết nói sao cho vơi, vẫn bên anh là đảo Sinh Tồn…” Ca khúc Gặp anh trên đảo Sinh Tồn được ông đưa cho ca sĩ Anh Đào tập hát, ba ngày trước khi chị lên đường ra Trường Sa.
Sau khi viết hai bài hát hay về Trường Sa, đến năm 1984 nhạc sĩ Hình Phước Long mới được ra thăm quần đảo, chuyến thăm Trường Sa duy nhất của ông. Chuyến đi hơn ba tuần, đến tất cả 9 đảo nổi ta đóng quân khi đó. “Những điều tôi thấy ở Trường Sa đều rất giống với những gì tôi đã cảm nhận, đã viết.” Nhạc sĩ Hình Phước Long kể. Vừa đặt chân lên đảo đầu tiên là đảo Song Tử Tây ở cực Bắc quần đảo Trường Sa, tác giả Gần lắm Trường Sa đã được lính đảo vây kín. Xúc động trước tình cảm của họ, dù còn say sóng, nhạc sĩ ôm ghita đứng hát “Anh ơi có nghe lời người từ phố biển, khi ngọn triều dâng cao. Khi cánh hải âu về, khi nắng sang mùa, nơi đảo trúc san hô…”
 bát Gần lắm Trường Sa do chính tay nhạc sĩ Hình Phước Long chép

“Tôi đã sáng tác 16 ca khúc về Trường Sa, mỗi bài có cấu tứ riêng, cảm xúc riêng, bài nào cũng được viết bằng cả tâm hồn.” Nhạc sĩ Hình Phước Long nói. Buổi chiều trên đảo Sơn Ca, ông thấy cả trăm người lính ngồi im lặng bên nhau ở bờ tây đảo, dõi mắt về đường chân trời. Họ ngóng về đất liền, về nơi có cha mẹ, vợ con, những người thân yêu nhất. “Ôi, còn gì đẹp hơn những lúc hoàng hôn, cánh lính chúng tôi có già có trẻ, cùng nhìn về phương trời xa thầm gửi lòng mình theo cánh chim bay…” Ca khúc Tâm tình người lính Trường Sa, một trong những bài ưng ý nhất của Hình Phước Long được ông viết sau chuyến thăm Trường Sa. Còn ngay trong chuyến đi đó, ông viết Tiếng hát đảo Sơn Ca: “Đảo Sơn Ca vắng tiếng sơn ca, chỉ có tiếng hát của những người chiến sĩ, anh bỗng trở thành loài chim quý, hát giữa đảo ngàn thay tiếng hót sơn ca…”
Bài hát Đêm trên đảo Thuyền Chài cũng được sáng tác từ kỷ niệm về chuyến đi. Chuyến đó, đoàn công tác của nhạc sĩ Hình Phước Long đưa một bia chủ quyền ra đảo chìm Thuyền Chài, hồi đó ta chưa đóng giữ. Khi ta đang đặt bia, có máy bay Mỹ bay lượn ở trên, nhưng công việc vẫn được tiến hành. Đêm xuống, mọi người nằm trên tàu, nghe chương trình dân ca qua radio. “Đêm trên đảo Thuyền Chài, nghe câu dân ca Nam bộ ơ hớ ớ hơ. Lòng nhớ về cánh đồng xanh quê ta…”
Nghỉ hưu năm 2009, năm 2010 nhạc sĩ Hình Phước Long viết bài hát Lung linh hồn biển. Bài hát nói về những đoàn tàu thả vòng hoa tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh ở vùng biển Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao ngày 14-3-1988, trong đó có Anh  hùng liệt sĩ, Trung tá Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146. Một buổi chiều, Nhạc sĩ Hình Phước Long gặp Trung tá Trần Đức Thông chạy xe máy trên đường Lê Thành Phương, Nha Trang. Anh Thông xin lỗi nhạc sĩ, không ngồi cùng uống nước được, vì đang vội mua sắm vật dụng cho chuyến ra Gạc Ma. Chỉ ba ngày sau, Trung tá Trần Đức Thông hy sinh cùng nhiều đồng đội trên tàu HQ 604. “Tàu buông neo khơi xa, giữa một vùng biển sóng, thả một vòng hoa trắng, nhớ đồng đội hy sinh. Cả Trường Sa lung linh, sáng ngời lên sắc biển, phải anh vừa hiển hiện, cánh chim đảo nghiêng mình…” Nhạc sĩ Hình Phước Long cất lời hát, mắt ngân ngấn nước.
Mái tóc bạc trắng, đang hồi phục sức khỏe sau một cơn tai biến, nhạc sĩ Hình Phước Long tâm sự, Trường Sa vẫn là đề tài sáng tác của ông. “Chưa biết bài hát mới sẽ được viết khi nào, nhưng sẽ có.” Ông nói.

http://www.tienphong.vn/van-nghe/550441/Nhac-si-cua-Truong-Sa-tpp.html



Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: IX - Trường Sa, những ngày không thể quên



Sau sự kiện xảy ra ngày 14-3-1988 tại vùng biển Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, cuối tháng 4-1988 Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh cùng Đô đốc Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương và nhiều cán bộ cấp tướng của các Quân chủng, Tổng cục trong quân đội đã ra thăm Trường Sa.

Ra nơi đầu sóng
Đang là phóng viên ảnh kiêm viết mảng quân đội của báo Phú Khánh (cũ), Nguyễn ViếtThái được cấp chục cuộn phim Orwo đen trắng của Cộng hòa Dân chủ Đức (cũ) để đi Trường Sa. Cùng đi, có anh Phạm Đình Quát ở Quốc doanh Nhiếp ảnh Phú Khánh, cố nhạc sĩ Xuân An ở Sở Văn hóa Thông tin, hai ca sĩ Thanh Thanh, Anh Đào ở Đoàn ca múa Hải Đăng, hai anh ở Quốc doanh Chiếu bóng Phú Khánh. Vào đến Nhà khách ngoại vụ của Vùng 4 Hải quân, họ nhập chung với các nhà báo, nhà quay phim ở Tạp chí Hải quân, NXB Quân đội nhân dân, Xưởng phim Quân đội, Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh…
Mấy lần được cho về nhà để chờ, xuống tàu rồi lại lên bờ, khoảng một tuần sau khi đến Nhà khách, họ mới thực sự khởi hành. Tàu ra biển, họ mới được thông báo lịch trình, biết được đi cùng Đại tướng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lê Đức Anh, Đô đốc Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương…
Viết Thái nhớ lại, những ngày ở Nhà khách anh thấy xe mang thư, quà gửi Trường Sa tấp nập đến đó. Sự kiện đẫm máu 14-3 còn đang nóng, cả nước đang hướng về những người lính nơi tuyến đầu. Chuyến đó, đoàn công tác không đến khu vực các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao, nơi Trung Quốc vẫn đang gây ra tình trạng rất căng thẳng, có thể lại bùng nổ bất cứ lúc nào. Nhưng trước khi lên đường, Viết Thái và nhà văn Khuất Quang Thụy đã vào căn cứ Cam Ranh thăm Trung đoàn 83 công binh, đơn vị có nhiều người hy sinh nhất trong sự kiện 14-3-1988. Đặc biệt, anh được gặp cán bộ, chiến sĩ tàu HQ 505 vừa từ Trường Sa trở về. Sáng 14-3-1988, dù bị tàu đối phương bắn cháy, nhưng tàu HQ 505 đã ủi bãi đảo Cô Lin thành công, bảo vệ được chủ quyền của Tổ quốc tại đây. Tập thể tàu HQ 505 và thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. “Thật xúc động khi gặp những người lính trẻ măng, vừa đối mặt với cái chết nhưng phong thái, nét mặt họ vẫn đầy vẻ tự tin, lạc quan”. Viết Thái kể.
Thuyền trưởng, Anh hùng Vũ Huy Lễ và đồng đội trên tàu HQ-505 anh hùng 

Trong 15 ngày thăm Trường Sa, đoàn ghé thăm 11 đảo: Đá Lát, Đá Đông, Núi Le, Tốc Tan, Tiên Nữ, Trường Sa, Phan Vinh… Dịp đó trời yên biển lặng, mặt biển mênh mông xanh ngắt. Trường Sa đẹp vô cùng. Ở đảo Thuyền Chài, khách được lính đảo dẫn đi lặn ngắm sa hô. Những đàn cá nhiều màu sắc tung tăng bơi lội giữa rừng san hô đủ các kiểu dáng như ở chốn thần tiên, khiến họ choáng ngợp. Buổi tối, ngắm ánh trăng lung linh soi bóng xuống mặt biển, cảm giác thật mơ màng, êm đềm. Nhưng cũng có lúc không khí trở lên căng thẳng, đó là lần hai tàu chiến Trung Quốc theo kèm, chạy cắt chéo đường chạy của tàu ta…

cố Đô đốc Giáp Văn Cương thăm bộ đội công binh đang xây dựng 
đảo Tiên Nữ
Ngày đó, hầu hết các đảo chìm họ ghé thăm đều mới được đóng giữ, chỉ có chiếc nhà cao chân rộng vài chục mét vuông. Công binh đang khẩn trương xây dựng nhà lâu bền trên một số đảo. Để lên đảo, mọi người phải đi xuồng, thủy thủ đẩy qua bãi san hô cập chân nhà. Tới mỗi đảo, Đại tướng Lê Đức Anh và Đô đốc Giáp Văn Cương đều thăm hỏi cán bộ chiến sĩ, rất thân tình, gần gũi. “Nhưng trong công việc, các ông ấy quyết liệt, nghiêm khắc lắm.” Viết Thái kể… 
Đại tướng Lê Đức Anh đọc lời thề tại đảo Trường Sa, ngày 7-5-1988
Một trong những bức ảnh của Nguyễn Viết Thái được sử dụng nhiều nhất là ảnh Đại tướng Lê Đức Anh tại lễ kỷ niệm 33 năm thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam, ngày 7-5-1988. Trước hàng quân trên đảo Trường Sa, giữa quần đảo Trường Sa đầy nắng gió, Đại tướng đọc lời thề: "Chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta".

Trường Sa, không chỉ là kỷ niệm
          “Khi lên đảo Phan Vinh, chúng tôi nghe kể, bộ đội vừa làm vệ sinh kho gạo, đập chết và đốt 75 ký xác gián.” Nhà báo Phạm Đình Quát (Tu Mien Bien) hiện làm việc tại Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, kể về một ấn tượng sâu sắc trong chuyến đi Trường Sa năm 1988. Gián, chuột không cách nào diệt hết, nhưng sau mùa mưa bão, cả đàn gà trên đảo chỉ còn một chú gà trống. Hàng ngày, nó lủi thủi đi ăn rồi về chuồng, chẳng buồn gáy nữa. Cho đến khi đảo có khách. Buổi tối sinh hoạt văn nghệ thật ấm cúng, hai nữ ca sĩ Anh Đào, Thanh Thanh say sưa hát, như chưa từng hát. Các chàng lính đảo, chẳng rõ chăm chú nghe hay ngắm hai ca sĩ hát, cứ ngẩn ra... Khoảng hơn 4 giờ sáng hôm sau, bỗng đảo nhỏ xôn xao bởi tiếng gà gáy. Chú gà trống đứng trên ụ pháo, vỗ cánh phành phạch, ngóc cao đầu gáy liên tục. Một pháo thủ trẻ dí dỏm bảo: “Vì hai người đẹp xuất hiện trên đảo, có “cân bằng âm dương” nên con gà mới có hứng thú gáy”.
Cũng trên đảo Phan Vinh, các vị khách đã chứng kiến niềm vui sướng đến tột độ của lính đảo, khi một trận mưa giông ập đến bất ngờ. Cả đảo ùa ra tắm, nhảy nhót, la hét… Xúc động trước cảnh lính đảo đón mưa, cố nhạc sĩ Xuân An viết ngay bài hát “Mưa Trường Sa”, rất được lính Trường Sa ưa thích. “Mưa! Trời mưa! Á ha, trời mưa! Từng bàn tay với lên trời cao, vuốt trên mặt người, thấm từng giọt mưa lẫn dòng nước mắt. Mưa ơi mưa ơi đảo nhỏ chờ mưa. Mưa đi mưa đi chúng tôi cần mưa…”

cố nhạc sĩ Xuân An và ca sĩ Thanh Thanh với lính đảo Phan Vinh
Có lần tại một đơn vị ở đảo Trường Sa, Xuân An hát suốt 90 phút rồi buông đàn nằm nghỉ. Các chiến sĩ trẻ nhao nhao: “Bố cứ vừa nằm vừa hát tiếp đi. Chúng con quạt cho bố mát”. Một lúc sau, anh em ở đơn vị khác kéo đến, miệng mời tay kéo Xuân An đến chỗ ở của họ... nằm hát tiếp. Không có tình cảm sâu sắc và mãnh liệt, chắc Xuân An, cũng như Anh Đào, Thanh Thanh, không thể hát khỏe như trong chuyến đi ấy. Hai chị còn tranh thủ khâu vá cho chiến sĩ… 

Đình Quát (ngồi) và Viết Thái
Còn đối với nhà báo Phạm Đình Quát, Trường Sa không chỉ là những kỷ niệm, mỗi lần nhắc đến Trường Sa là cồn cào nỗi nhớ.

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: VIII - Biết âm mưu kẻ địch, kìm chế để giữ chủ quyền


Đại tá Nguyễn Văn Dân, nguyên Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân nói về sự kiện 14-3-1988, về CQ88

Sao Trung Quốc không đánh chiếm Len Đao?
Theo tôi nghĩ, Trung Quốc không đánh vì mình đã cắm cờ ở Len Đao, và tàu HQ-605 chìm ngay bên cạnh. Nhưng quan trọng nhất là 614 thả neo bên cạnh, nên nó không thể đánh nữa. Ở Cô Lin cũng vậy, mình có HQ-505 trên đó rồi.
Nhưng mình đã lên Gạc Ma, nó vẫn đánh? 
Gạc Ma, mờ sáng ngày 14 mình lên, triển khai cắm chốt trên đó thì nó đánh ngay, phủ đầu luôn. Nó đánh cho mình không dựng được nhà luôn, đánh cả tàu HQ-604, hơn 100 người trên đó chìm luôn. Nó rất hung hăng. Nếu mình triển khai được trước một ngày, đưa được cái nhà cao chân lên thì chưa chắc đã xảy ra chuyện này. Nhưng tôi tin rằng, trong ý đồ Trung Quốc nó cố gắng chiếm Gạc Ma. Gạc Ma là bãi chìm ở Tây Nam đảo Sinh Tồn, lớn hơn Cô Lin. Cụm đảo Sinh Tồn rất rộng, đến hàng trăm cây số vuông, Trung Quốc nó chiếm Huy Ghơ ở Đông Bắc, Gạc Ma ở Tây Nam, để sau đòi tranh chấp chủ quyền.  
Dịp 14-3-1988, Không quân có ra Trường Sa? 
Hôm 14-3, máy bay AN26 của mình có bay ra, lượn mấy vòng ở Cô Lin, Sinh Tồn rồi về, rất kìm chế. Sau đó máy bay Trung Quốc cũng bay ra, loại lớn hơn. Những ngày 15, 16, 17 là căng thẳng nhất, mình đã cắm cờ cứu hộ cứu nạn đi tìm anh em mình, nhưng Trung Quốc vẫn cản trở. Không những họ tấn công, giết nhiều anh em mình, mà còn không cho mình đi tìm kiếm.  
Tại sao ở Gạc Ma, mình không đánh lại?
Nói chung, chủ trương của ta hồi đó là không đưa tàu chiến ra. Mình khẳng định chủ quyền là của mình, đưa các phương tiện vận tải, anh em công binh ra giữ chủ quyền. Nếu có đưa tàu chiến ra Trường Sa, chỉ là để tăng cường hỗ trợ bảo vệ, chứ không phải để đối đầu, gây chiến. Chủ quyền là của mình, mình có trách nhiệm tiếp tục đóng giữ, bảo vệ.  
Xây dựng đảo chìm, sau 14-3-1988
Người ta cứ thắc mắc, sao mình không nổ súng? Thực ra mà nói, mình không có vũ khí để đánh. Như cái HQ-605, chỉ có hai bệ pháo 40 ly của Mỹ, cũ rồi. Tàu Trung Quốc nó đậu cách mấy hải lý, nó dùng pháo 76, pháo 100 và lớn hơn bắn vào mình. Biển lúc đó lặng như cái ao, cho nên nó bắn mình như tập bắn bia. Mình chỉ có thể đứng nhìn nó bắn, chứ bắn tới nó sao được. Chỉ có, nếu hôm đó nó đổ bộ lên Gạc Ma, chắc nó sẽ bị chết một số, vì bộ đội mình mang AK Tiệp. Trung Quốc nói là đã lên cắm cờ ở Gạc Ma rồi, mình lên đuổi nó nên nó mới bắn, là hoàn toàn sai. Vì cụm đảo Sinh Tồn gồm Sinh Tồn Lớn, Sinh Tồn Đông, rồi một vòng bãi chìm là Đá Hốc, Cô Lin, Gạc Ma, Len Đao… là một cụm gắn với nhau. Cả một vòng san hô gắn với nhau, là một đảo, mình đã đóng mà Trung Quốc ngang nhiên lên đó. Họ nói thế là chính họ thừa nhận họ làm sai.   
Nói thêm chỗ quân ta ở Sinh Tồn. Từ Sinh Tồn ra đến Gạc Ma mấy chục cây số, sao mà nổ súng tới.  
Liên Xô không can thiệp gì?
Khi chiến sự xảy ra, lực lượng Liên Xô không tham gia, vì sẽ làm vấn đề trở nên phức tạp. Họ chỉ cung cấp cho mình các phương tiện giúp mình xác định tọa độ, báo cho mình về tình hình di chuyển lực lượng của địch. Tôi nghĩ, lúc đó nếu Liên Xô tham gia, tình hình khu vực còn trở nên phức tạp hơn nữa.

Qua CQ88, tôi rút ra mấy cái.
Một là, chủ quyền bây giờ ta có được là do đánh giá đúng âm mưu, ý đồ, thái độ của các bên đối phương đối với các điểm đảo Trường Sa. Chủ trương đúng, có quyết tâm kịp thời, khắc phục khó khăn để giữ được các đảo. Khi mình chủ trương làm nhà cao chân trên tất cả các đảo chìm, mình dùng từ “đóng giữ”, vì chủ quyền của mình rồi, chứ không phải mình “chiếm đóng”. Chính vì quan điểm đó, nên chúng tôi dù khó khăn mấy cũng làm, bằng phương tiện thô sơ của mình. Chúng tôi đúc cột bê tông rồi đưa người ra, chỉ đóng 8 cái cột rồi làm chòi trên đó, che cót, che tôn để anh em ở. Nói chung dịp 1988, các đảo ta chủ định đóng giữ đều đóng giữ được, trừ Huy Ghơ, Gạc Ma, Châu Viên, Chữ Thập, Ga Ven.
Hai là, mặc dù có khó khăn về phương tiện, nhưng mỗi người tham gia bảo vệ Trường Sa đều có quyết tâm, nỗ lực rất lớn. Lúc bấy giờ, có những cái rất căng thẳng, có những thời điểm quá khắc nghiệt. Có lúc chúng tôi hết cả cái ăn, nước uống, quần đùi may ô suốt, may có tàu Mỹ Á ra tiếp tế… Cái lòng bền bỉ, sự kiên quyết của anh em rất là lớn. Ở nhà, lúc đầu tưởng tôi đã hy sinh, vì tàu bị mất liên mạc, tưởng Trung Quốc bắn rồi. Danh sách hy sinh không ghi tên tôi, nhưng ở quê cứ đồn tôi hy sinh rồi…Vợ tôi ốm mấy tháng là vì thế.  
          Ba là, trước các tình huống khi đó, chỉ huy trực tiếp gián tiếp đều rất linh hoạt, kịp thời. Hồi đó, phương tiện thiếu thốn, nhưng lên chỗ nào để tìm địa điểm làm nhà, đưa quân đóng giữ, thấy có điều kiện là làm ngay. Đồng thời, đối sách hết sức khéo léo, không để dẫn đến nổ súng, ví dụ như tình hình ở Len Đao, tôi đã kể. Hoặc tình hình căng thẳng hồi tháng Tư, khi tàu cứu hộ Mỹ Á ra thay cho tàu Đại Lãnh, Trung Quốc cho 5 tàu chiến vây ép hai tàu này và HQ-614. Đối phương cho rằng mình lợi dụng cứu hộ để mang tên lửa ra, nó gây căng thẳng lắm. Thái độ họ hung hăng, nhưng mình bình tĩnh, việc ai người ấy làm, chủ quyền mình mình giữ.
Nay, vẫn có nhiều người nói năm 1988 mình để Trung Quốc chiếm đảo?
Nói năm 1988 mình thả lỏng để Trung Quốc chiếm đảo là hoàn toàn sai. Tôi là người trong cuộc, tôi rất hiểu. Quần đảo Trường Sa quá rộng, các điểm đảo cách nhau rất xa, mình hết sức cố gắng đóng giữ với khả năng của mình. Mặc dù lúc đó tàu mình chủ yếu là tàu vận tải, phương tiện thô sơ, đi ra tìm đúng đảo rất khó khăn, phải nhờ kinh nghiệm, xác định định vị dựa vào các tàu buôn lớn của nước ngoài qua lại. Có những chuyến tàu ra 3 - 4 ngày, không tìm được đảo lại phải quay về đất liền để xác định lại, vì đảo là đảo chìm, mênh mang. Nhưng không có chuyện thả lỏng Trung Quốc nó muốn làm gì thì làm. Ý chí, quyết tâm của mình lớn, nhưng tiềm lực, khả năng của mình hạn chế. Phải thừa nhận với nhau chuyện đó. Mình chủ trương đóng giữ tất cả các đảo, nhưng phải chú ý đóng giữ các đảo lớn, bãi chìm lớn trước, bãi nhỏ sau. Như Chữ Thập, nó rất nhỏ, lại nằm trong cùng phía Tây này, nên không nghĩ rằng Trung Quốc nó sẽ lên đó. Nhiệm vụ của chúng tôi là xây dựng xong hai nhà cao chân trên Đá Đông thì lên làm xong nhà ở Ga Ven, nếu còn lực lượng, còn phương tiện sẽ giải quyết nốt Chữ Thập... Nhưng có những điểm, khi mình đến đóng giữ thì Trung Quốc gây sự, không phải là vì mình không đóng nên Trung Quốc đến đóng đâu. Mà Trung Quốc cố tình đưa phương tiện, lực lượng vũ trang hiện đại đến, chiếm đảo bằng sức mạnh. Tôi nói điển hình như vụ Gạc Ma. Mình đưa bộ đội lên giữ đảo, để thể hiện chủ quyền của mình. Nếu Trung Quốc có thiện chí, họ sẽ thể hiện thái độ bằng con đường này con đường khác. Nhưng khi bộ đội Việt Nam tay không lên đảo, họ dùng hoả lực tàu chiến, dùng pháo bắn tới tấp lên tàu, bắn anh em tay không trên đảo.
Về chủ quyền biển đảo, các thế hệ của mình đã có mặt ở Trường Sa từ xưa đến giờ. Không những sau khi đất nước Việt Nam hoàn toàn giải phóng, mà từ trước đó, chế độ Sài Gòn, họ là con người Việt Nam, đã đưa người Việt Nam ra giữ biển đảo của mình, chủ quyền của mình. Đó là cái ý nghĩa cơ bản, lâu dài của việc giữ chủ quyền. Còn về bản chất phía Trung Quốc, họ đã có ý đồ từ lâu. Họ kiếm cớ để chiếm đảo của mình bằng hành động trái phép. Năm 1988, xác định được đối phương như thế nên mình đã phản ứng nhanh chóng, chính xác.Từ nhận định cho đến xử tình huống là kịp thời, không gây quá nhiều tổn thất đối với lực lượng mình, không để xảy ra chiến tranh, nhưng thể hiện quyết tâm giữ chủ quyền.   
Nếu năm 1988 hoặc năm nào đó, các lực lượng đối phương đụng đến các đảo ta đã đóng quân, như Sơn Ca, như Song Tử Tây, sự việc không dừng lại như ở Gạc Ma…

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: VII - Đóng giữ đảo Len Đao


Phải mất hơn nửa năm trời, việc đóng giữ đảo Len Đao mới hoàn thành, trước họng pháo của tàu Trung Quốc.
          Từ Đá Đông, tàu HQ 614 hành quân lên phía đảo Sinh Tồn ngay trong đêm 13-3. Nhưng do bị hai Trung Quốc chặn, trưa ngày 14-3 tàu HQ 614 mới đến được đảo Sinh Tồn. Lúc đó, các tàu HQ 604, HQ 605 đã bị bắn chìm, tàu HQ 505 đã lao lên đảo Cô Lin...
          Sáng 15-3, tàu HQ 614 xác định được vị trí tàu HQ 605 chìm ở cạnh đảo Len Đao, thả neo đánh dấu. Trước đó, lực lượng trên tàu HQ 605 đã lên đảo Len Đao củng cố, rồi dùng xuồng và vật nổi bơi về Sinh Tồn. Trong số người đã hy sinh, thi thể Trung úy Phan Hữu Doan (quê Chí Tiên, Thanh Hòa, Phú Thọ, Thuyền phó chính trị tàu HQ 605) được đưa về đảo Sinh Tồn. Anh em nói, trong tàu còn thi thể Trung sĩ Bùi Duy Hiển (quê thị trấn Diêm Diền, Thái Thụy, Thái Bình, nhân viên báo vụ), nhưng anh em chưa đưa thi hài đi được. Ít ngày sau, tàu Đại Lãnh ra cứu hộ, thợ lặn tích cực tìm kiếm trong tàu HQ 605 ở độ sâu 40 mét, nhưng không thấy thi thể anh Hiển. 
Tàu HQ 614 neo gần chỗ tàu HQ 505 ở đảo Cô Lin, lập sở chỉ huy cụm 2 (Sinh Tồn) ngay tại đó. Ít ngày sau, tàu chuyển sang neo cạnh đảo Len Đao. Khoảng mươi ngày sau ngày 14-3, quốc kỳ Việt Nam cắm ở Len Đao sáng 14-3 bị sóng lớn làm trôi, ta tổ chức cắm lại. “Lá cờ bị sóng cuốn trôi, nhưng không biết tại sao, lại trôi về tàu HQ 614 của tôi, lúc buổi trưa”. Đại tá Dân kể. Khi ta đưa cờ lên đảo để cắm lại, Trung Quốc đưa tàu đến sát, đe dọa nổ súng. Mặc cho các họng súng của đối phương đe dọa, quốc kỳ Việt Nam vẫn được cắm lại, tung bay trên đảo Len Đao. Theo Đại tá Dân, Chuẩn Đô đốc Võ Nhân Huân, Phó Tư lệnh Hải quân nói với ông, ở Bảo tàng Quân đội vẫn còn tấm ảnh ông mặc áo ba lỗ có sọc của hải quân, đang cầm cờ để cắm lại ở Len Đao.  

Lúc đó, ta chưa xây dựng được nhà ở Cô Lin và Len Đao, giữ chủ quyền Cô Lin bằng tàu HQ 505, giữ Len Đao bằng cờ cắm trên đó và bằng tàu HQ 614. Thời gian đầu, ở Len Đao chỉ có HQ 614, hai tháng sau có thêm hai tàu cá, dạng tàu cá Hồng Kông. HQ 614 có thuyền trưởng là Đại úy Thành, thuyền phó Lợi và khoảng trên 20 người. Ở cụm Sinh Tồn, Trung Quốc chiếm hai đảo chìm là Huy Ghơ và Gạc Ma, duy trì lực lượng quân sự rất đông. Hai tàu quân sự Trung Quốc luôn áp sát đảo của ta để gây sự, làm cho ta không dựng nhà được. Đồng thời, một tàu pháo của Trung Quốc chạy liên tục giữa Huy Ghơ và Gạc Ma.
Buổi trưa 12-5-1988, tàu Trung Quốc áp sát tàu HQ 614 và hai tàu cá vừa được tăng cường đang ở cạnh đảo Len Đao, khi quân ta chuẩn bị ăn cơm. HQ 614 là tàu vận tải loại 200 tấn, vũ khí chỉ có AK với B40, một khẩu 12 ly 7. Tàu Trung Quốc cũng khoảng 200 tấn, nhưng có pháo 37 ly, súng 14,5 ly, nòng chĩa thẳng vào tàu ta. Binh lính Trung Quốc rất ngạo mạn, đứng hút thuốc, búng tàn thuốc về phía ta, tỏ vẻ khiêu khích. Lúc đó, tàu ta chưa có tăng cường người biết tiếng Trung Quốc, còn tàu nó có người nói tiếng Việt rất sõi. Quân ta hết sức bình tĩnh, mặc cho đối phương khiêu khích. Anh Liên, lính đặc công người Quảng Bình được phân công ôm khẩu B40 nằm trong xuồng, anh em khác mỗi người một khẩu AK, ngồi giả vờ câu cá. “Nếu nó nhảy sang, B40 sẽ bắn vào đài chỉ huy của tàu nó, còn AK cũng bắn mạnh luôn, mình có hy sinh thì nó cũng phải chết bao nhiêu đứa”.Đại tá Dân kể lại, giọng đầy hào sảng…
          Tháng 9-1988, tàu HQ 614 về đất liền, thuyền thưởng, máy trưởng, ông Dân và tập thể tàu được tuyên dương ngay, tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Đầu năm 1989, HQ 614 bị mắc cạn ở đảo Thuyền Chài, được tàu Liên Xô tới cứu, nhưng vẫn bị chìm trên đường được kéo về bờ.
Góc xanh của lính đảo Len Đao
          
Khi về đất liền, Đại tá Dân được Đô đốc Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương hỏi ý kiến về cách tổ chức xây dựng đảo Len Đao. Ở Len Đao có doi cát di chuyển theo mùa, khi thủy triều lên cao nhất là doi cát gần ngập. Đại tá Dân đề nghị, nên dùng tàu kéo một tàu LTM8 (tàu há mồm nhỏ) ra, trên đó có sẵn nhà cao chân và các phương tiện lắp ghép.  Buổi tối mình tập kết cạnh đảo, lúc thủy triều lên cao nhất thì mình đổ bộ, triển khai làm nhà luôn. Tàu Trung Quốc ở ngay đó, nhưng sẽ không kịp phản ứng, không có cớ để đánh mình. Khoảng tháng 10, tháng 11-1988, lúc đó triều cường, việc xây dựng đảo Len Đao được thực hiện thành công. Sau đó, đảo Cô Lin được xây dựng. Cuối năm 1988, Đại tá Dân tham gia đoàn khảo sát độ sâu, dòng chảy, cắm mốc tất cả các vị trí dự định xây dựng ở các đảo chìm Tốc Tan, Tiên Nữ, Núi Le, Đá Tây… 

Viếng liệt sĩ 14-3-1988 tại Tượng đài Cam Ranh


Sáng 14-3, đại diện nhóm nhà báo tại Nha Trang có trang Facebook (Nha Trang JFB) cùng Đại tá Nguyễn Văn Dân, dịp 14-3-1988 là Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân, chỉ huy trưởng cụm các đảo Sinh Tồn, Cô lin, Len Đao... đi viếng Tượng đài Tưởng niệm các quân nhân Liên Xô/Liên bang Nga, Việt Nam hy sinh vì hòa bình ổn định khu vực (Tượng đài Cam Ranh).
Tới Mỹ Ca, phường Cam Nghĩa, thành phố Cam Ranh, đoàn đón chị Đỗ Thị Hà, vợ liệt sĩ - trung úy Đinh ngọc Doanh, hy sinh ở vùng đảo Gạc Ma ngày 14-3-1988
Chị Hà kể, chỉ 3 ngày sau khi anh Doanh cùng đồng đội rời Cam Ranh trên tàu HQ-604, chị nghe tin anh hy sinh. Lúc đó, chị thấy trời đất như quay cuồng, sập xuống. Thương con gái Đinh Thị Mỹ Lệ mới 2 tuổi, chị nén nỗi đau, ở vậy nuôi con khôn lớn, trưởng thành. Nay, Mỹ Lệ đã 27 tuổi, đang làm việc tại TP.HCM. Suốt 25 năm qua, chị Hà đau đáu mong mỏi được đón di cốt của anh Doanh, trở về từ lòng biển. Năm 2008, khi ngư dân tìm được 4 bộ hài cốt trong tàu HQ-604, bị Trung Quốc bắn chìm ở Gạc Ma ngày 14-3-1988, chị Hà hy vọng trong đó có hài cốt chồng mình. Nhưng kết quả xét nghiệm AND không như chị mong đợi. Từ năm 2009, Tượng đài Cam Ranh được xây dựng, tên anh Đinh Ngọc Doanh được ghi trên bia tưởng niệm, chị cũng được an ủi phần nào. Ngày giỗ anh 27 tháng giêng âm lịch, ngày 14-3, ngày 27-7, dịp Tết, chị đều tới Tượng đài Cam Ranh thắp hương…  
  chị Đỗ Thị Hà và vợ chồng Đại úy Dương Hoa Hồng
Tại Tượng đài Cam Ranh, chúng tôi gặp vợ chồng Đại úy Dương Hoa Hồng từ xã Diên Thạnh (Diên Khánh, Khánh Hòa) chở nhau bằng xe máy vào viếng đồng đội. Năm 1983, khi Đại úy Hồng là thuyền trưởng tàu HQ-604, Trung úy Vũ Phi Trừ về làm thuyền phó. Năm 1985, Đại úy Hồng chuyển công tác, anh Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng tàu HQ-604. “Vũ Phi Trừ là người chất phác, rất chịu khó, mới tốt nghiệp Học viện hải quân đã về tàu HQ-604 là tàu chuyên đi Trường Sa, công tác cực kỳ vất vả, nhưng trưởng thành rất nhanh”. Đại úy Hồng nhớ về Anh hùng liệt sĩ – Đại úy Vũ Phi Trừ.   
Bia tưởng niệm tại Tượng đài Cam Ranh Ranh ghi tên 172 liệt sĩ hy sinh tại khu vực quần đảo Trường Sa và các Nhà giàn DK1 ở vùng thềm lục địa phía Nam Việt Nam, trong đó có 64 liệt sĩ hy sinh tại đảo Gạc Ma và đảo Len Đao ngày 14-3-1988. Khi chúng tôi lên viếng, đã thấy những vòng hoa của Đại tá Phạm Hoài Nam, Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, của Ban liên lạc truyền thống hải quân TP. Hồ Chí Minh, mấy vòng hoa ghi tiếng Nga…
Đại tá Nguyễn Văn Dân kể lại những ngày căng thẳng tháng 3-1988, về những đồng đội của ông đã hy sinh. Khi đó, Đại tá Dân là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4. Đêm 13-3-1988, đang ở đảo Đá Đông, ông được lệnh lên tàu HQ-614, chỉ huy lực lượng hành quân ngay lên phía đảo Sinh Tồn, Gạc Ma. Do bị hai tàu Trung Quốc phá sóng liên lạc và chặn đường, đến chiều ngày 14-3 tàu HQ-614 mới đến được khu vực các đảo Cô Lin, len Đao, Gạc Ma. Lúc đó, tàu HQ-604 và tàu HQ-605 đã bị các tàu Trung Quốc bắn chìm, tàu HQ-505 đã lao lên giữ đảo Cô Lin… Tàu HQ-614 cập vào gần tàu HQ-505, lập sở chỉ huy khu vực 2 Trường Sa tại đó, cho đến tận tháng 9-1988. Tuy trong danh sách những người hy sinh, mất tích ngày 14-3-1988 không có tên Trung tá Dân, nhưng ở quê nhà ông tại xã Bình Minh (Tĩnh Gia, Thanh Hóa) có tin đồn ông đã hy sinh, làm vợ ông ốm mấy tháng. 
Đại tà Nguyễn Văn Dân thay mặt đoàn nói lời điếu với hương hồn các liệt sĩ
chị Hà, Đại úy Hồng, Đại tá Dân  
Chúng tôi đang viếng Tượng đài Cam Ranh thì có một đoàn khách Nga tới. Họ cúi đầu trước tượng đài, chăm chú đọc tên những đồng bào của họ đã bỏ mình. Nghe Đại tá Dân nói về những liệt sĩ Việt Nam hy sinh ngày 14-3-1988, họ lại cúi đầu, một lần nữa. 

Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: VI - Gửi lòng ra nơi sóng đã cuốn Tuấn đi


Gần 24 năm sau khi liệt sĩ Võ Đình Tuấn hy sinh khi bảo vệ đảo Gạc Ma, huyện đảo Trường Sa, người yêu của anh đã nhờ phóng viên gửi nhiều kỷ vật ra nơi sóng đã cuốn Tuấn đi.

Trao gửi tấm lòng
Ngày 26-5-2011, báo Khánh Hòa có bài viết “Muốn ra nơi sóng đã cuốn Tuấn đi”, kể về chuyện tình của cô giáo Nguyễn Thị Dung với liệt sĩ Võ Đình Tuấn, một trong 64 người lính đã hy sinh ở khu vực các đảo Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin của quần đảo Trường Sa, ngày 14-3-1988. Chị Dung ước nguyện được một lần ra tận nơi anh Tuấn hy sinh, “Muốn thấy ngọn sóng nào đã cuốn Tuấn ra đi”, muốn gửi cho Tuấn một số kỷ vật. Nếu không được ra Trường Sa, chị muốn nhờ tôi thực hiện ước nguyện ấy.
Ngày 10-12-2011, được Tòa soạn cử đi cùng đoàn công tác của Vùng 4 Hải quân và Lữ đoàn 146 ra thăm, tặng quà Tết cho quân dân huyện đảo Trường Sa, tôi báo tin cho Dung. Trưa 12-12, Dung đến nhà tôi. Chị mang theo một hộp nhựa nhỏ trong suốt, phía nắp dán mảnh giấy trắng, ghi “12-12-2011 - Thương gửi Võ Đình Tuấn - Dung” và bức ảnh Dung thời sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang. Trong hộp, Dung xếp những trang nhật ký, những lá thư, mấy bài thơ chị viết cho Tuấn, khá lâu sau khi được tin anh đã hy sinh. Mặt kia của hộp dán bức ảnh hai người chụp chung trong dịp Noel năm 1987, được ép plastic. “Đây là bức ảnh Tuấn chưa từng được thấy trước lúc hy sinh” - Dung nghẹn ngào nói. Chị dán kỹ chiếc hộp bằng băng keo để khỏi thấm nước, nhờ tôi chuyển đến cho Tuấn ở nơi anh và đồng đội đã ngã xuống. Ngần ngừ một lúc, Dung mượn tôi chiếc máy ghi âm. Chị muốn Tuấn nghe giọng nói của mình...

Trong dịp này, lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-1988 được thực hiện trên tàu HQ 936, chở đoàn thăm cụm đảo giữa huyện đảo Trường Sa. Tôi không thể dự buổi lễ này, vì được phân công đi theo tàu HQ 996, thăm các đảo phía Bắc Trường Sa. Thấy trong nhóm nhà báo đi tàu HQ 936 có hai nhà báo nữ trẻ là Hồng Nhạn, báo Ninh Thuận và Phương Duyên, báo Gia Lai, tôi chuyển cho họ các kỷ vật của chị Dung. Tôi tin, hai cô gái trẻ sẽ đồng cảm với Dung, sẽ nâng niu trân trọng tấm lòng của một người phụ nữ dành cho người yêu đã hy sinh. Thượng tá Nguyễn Văn Thư, Phó Chính ủy Lữ đoàn 146, Trưởng đoàn công tác trên tàu HQ 936 hứa, sẽ giúp Hồng Nhạn và Phương Duyên thực hiện ước nguyện của Dung.
Đúng 8 giờ sáng 4-1-2012, Hồng Nhạn gọi điện thoại, cho tôi nghe tiếng còi tàu HQ 936 rền vang. Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-1988 bắt đầu. Trên đảo Đá Lớn A, tôi đứng cúi đầu về hướng Đông Nam, nơi có vùng biển Gạc Ma, Len Đao, Cô Lin. Điện thoại của tôi hiện lên tin nhắn của Dung: “Em gửi lòng mình và nước mắt vào mênh mông biển đảo Gạc Ma. Xin được tưởng niệm Tuấn và tất cả các chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi vì Tổ quốc”.

Em đã đến nơi chị mong được đến

Có phải ngẫu nhiên hay sắp đặt mà tôi, một người không quen biết với chị Dung, lại là người chuyển tình yêu của chị đến liệt sĩ Võ Đình Tuấn, giữa biển khơi mênh mông. Sự kiện Gạc Ma diễn ra vào năm 1988, năm sinh của tôi, ngày chị Dung viết lại lá thư cho anh Tuấn cũng chính là ngày sinh của tôi, 28-8.
Ngày 15-12-2011, khi được trao gửi kỷ vật của chị Dung, tôi và Phương Duyên đã hứa, sẽ không phụ lòng chị. Lên đảo Phan Vinh, chúng tôi tìm một khối san hô và một vỏ ốc thật đẹp, làm bệ và nắp che cho hộp kỷ vật của chị Dung. Các anh trong đoàn công tác giúp chúng tôi buộc chặt tất cả với nhau, để khi được thả xuống biển, kỷ vật sẽ đến được với anh Tuấn, ở lại với anh.
Sáng 4-1-2012, biển trời trước đảo Cô Lin khá u ám, sóng lớn. Nhưng trước giờ làm lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ hy sinh ngày 14-3-1988, trời hửng nắng soi xuống mặt biển xanh, sóng dịu hơn. Anh Văn Điệp, một sĩ quan trong đoàn công tác đặt kỷ vật của chị Dung và tờ báo Khánh Hòa có bài viết “Muốn ra nơi sóng đã cuốn Tuấn đi” lên ban thờ. Kể từ lúc thắp hương cho các hương hồn liệt sĩ, tôi đã để nước mắt lăn dài trên má. Sự hy sinh của anh Tuấn và đồng đội đã cho thế hệ chúng tôi được hưởng cuộc sống thanh bình hôm nay. Tôi hiểu hơn về sự chờ đợi, về khát khao của chị Dung được đến nơi này, nơi anh Tuấn đã hy sinh. Nước mắt cũng đã rơi trên gương mặt của nhiều cán bộ, chiến sĩ Hải quân và các phóng viên trên tàu HQ 996.

Sau khi vòng hoa tưởng niệm được thả xuống biển, tôi thầm thì: “Chị Dung ơi, em đã đến nơi mà chị mong được đến, em sẽ trao cho anh Tuấn kỷ vật của chị”. Tôi mở đoạn ghi âm, để những lời nghẹn ngào của chị Dung vang đến anh Tuấn. “Tuấn à! Dung gửi Tuấn những kỷ vật của hai đứa mình từ ngày ấy... Mong rằng hương hồn Tuấn sẽ nhận được những gì mình gửi hôm nay. Trái tim Dung luôn nhường bước cho Tuấn, luôn luôn đợi Tuấn. Dung biết, hôm nay Tuấn sẽ cảm nhận được chút lòng của mình. Dung muốn nói, Dung sẽ mãi nhớ Tuấn, và yêu Tuấn”. Nâng gói kỷ vật lên ngang mày, tôi quỳ bên mạn tàu, khấn nhỏ với anh Tuấn, mong anh và đồng đội sẽ hiểu được tấm lòng của chúng tôi. Trong phút chốc, tôi thấy mình như chính là chị Dung! Tôi hôn lên kỷ vật của chị Dung trước khi thả về với biển, cùng với tờ báo. Biển thăm thẳm ôm trọn tất cả. Buổi xế chiều hôm ấy, trời đang ráo tạnh bỗng nổi một cơn mưa rào...
Tình yêu của chị Dung và liệt sĩ Võ Đình Tuấn đã cho tôi, một người trẻ, tin sự vĩnh cửu của tình yêu không chỉ có trong cổ tích.