Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa: II - Chiến dịch CQ88


Từ giữa năm 1987, Trung Quốc tăng cường hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa. Lãnh đạo Quân chủng Hải quân xác định, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất, vinh quang nhất của Quân chủng. Toàn quân chủng bước vào chiến dịch CQ88 (Chủ quyền 88). 

Đại tá Nguyễn Văn Dân kể, trước năm 1987 mình đã đóng giữ một số đảo chìm. Từ giữa năm 1987, tình hình tại quần đảo Trường Sa diễn biến rất khẩn trương, Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu đổ bộ đến khu vực quần đảo Trường Sa. Toàn Quân chủng Hải quân vào chiến dịch CQ88 (Chủ quyền 88). Biết đối phương có ý đồ, cấp trên chỉ đạo Vùng 4 làm sẵn các khung nhà cao chân, tổ chức biên chế lực lượng để mang ra ráp tại các đảo chìm, bãi đá ngầm. Khi đó ông Dân là Trung tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4, trực tiếp chỉ huy khu vực 2 của Trường Sa. Tháng 10-1987, Trung tá Dân trực tiếp cùng Trung tá Lưu Đình Lừng - Hải đội trưởng một hải đội của Lữ đoàn 125 đi tàu HQ 617 ra tăng cường cho Trường Sa.  

nhà cao chân ở đảo Núi Le, tháng 5-1988 - ảnh của Nguyễn Viết Thái, phóng viên báo Phú Khánh, người ngồi bên trái
Tàu HQ 617 mang 3 khung nhà cao chân và 3 khung lực lượng đóng giữ đảo, vừa nắm tình hình vừa dựng nhà trên đảo chìm. Trọng tâm là giữ bằng được đảo Đá Lớn. Đảo Đá Lớn gần đất liền hơn so với nhiều đảo khác. Đá Chữ Thập còn gần hơn, nhưng lúc đó mình quan niệm Chữ Thập nó nhỏ. Đá Lớn là một bãi cạn dài hơn 20 km, tương đương với các đảo Thuyền Chài, Đá Đông, là những đảo loại to nhất ở Trường Sa, đều do ta đóng giữ. Đảo Núi Thị (Đá Thị) cũng rất quan trọng, ở ngay phía Đông đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm giữ và không xa các đảo Thị Tứ, Loại ta đang bị Philippines chiếm giữ.
Đơn vị của Trung tá Dân đã xác định được luồng vào hồ Đá Lớn (vùng nước phía trong vành đai san hô) và 3 điểm dựng nhà. Nhưng khoảng ngày 7, ngày 8-11-1987 có một cơn bão lớn, tàu HQ 617 bị mất toàn bộ hệ thống neo, phải về đất liền tránh bão…

đảo Núi Thị, tháng 12-2011
Ngày 20-1-1988, nhóm cán bộ đầu tiên của Bộ Tư lệnh Hải Quân do Chuẩn Đô đốc, Phó Tư lệnh Phạm Huấn dẫn đầu vào đến Cam Ranh, lập Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải Quân. Tại đây, Chuẩn Đô đốc Phạm Huấn phổ biến Nghị quyết của Quân chủng về nhiệm vụ đóng giữ các đảo chìm trong tình hình khẩn trương. Đến tháng 2, Tư Lệnh Quân chủng Giáp Văn Cương cũng vào Cam Ranh, trực tiếp làm Tư lệnh Vùng 4, chỉ huy chiến dịch Chủ Quyền 88 (CQ88).


đảo Đá Đông, tháng 5-1988 - ảnh của Nguyễn Viết Thái

Sau 1975, Việt Nam đóng giữ thêm 16 đảo ở Trường Sa

Tháng 4-1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam giải phóng và tiếp quản 5 đảo từ Hải quân Việt Nam Cộng hoà: Song Tử Tây (Southwest Cay), Sơn Ca (Sand Cay), Nam Yết (Namyit Island), Sinh Tồn (Sincowe Island), Trường Sa (Spratly Island).
Tháng 2-1978, Philippines đưa quân chiếm đóng đảo Panata (cồn san hô Lan Can - Lankian Cay), đảo Dừa (Bến Lạc - West York Island). Ngày 10-3-1978, quân ta đổ bộ lên đảo An Bang (Amboyna Cay). Ngày 15-3-1978, ta đóng giữ đảo Sinh Tồn Đông (Sincowe East Island, tên cũ là Đá Nhám, Đá Grisan, Grierson Reef). Ngày 30-3-1978, ta đóng giữ đảo Hòn Sập (Phan Vinh - Pearson Reef). Ngày 4-4-1978, quân ta hoàn thành việc đóng giữ đảo Trường Sa Đông (Đá Giữa, Central London Reef). Cũng trong tháng 4-1978, một phân đội được đưa ra đóng giữ đảo Thuyền Chài (Barque Canada Reef), nhưng do điều kiện vật chất chưa bảo đảm, tháng 5-1978 phân đội được rút về đất liền.
          Tháng 12-1986 và tháng 1-1987, Malaysia chiếm đóng bãi Kỳ Vân (Mariveles Reef) và bãi Kiệu Ngựa ( Ardasier Reef). Tháng 3-1987, ta trở lại đóng giữ đảo Thuyền Chài.
          Tháng 6-1987, Trung Quốc diễn tập quân sự ở nam biển Đông. Tháng 10, tháng 11-1987, một số tàu chiến của Trung Quốc đi gần các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa Đông, Trường Sa, Song Tử Tây.
Ngày 24-10-1987, Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra lệnh Vùng 4 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ thường xuyên lên tăng cường. Ngày 6-11-1987, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra Mệnh lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, giao cho Quân chủng Hải quân "Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ chỉ thị cấp trên".
Ngày 2-12-1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội đến đảo Đá Tây (West London Reef ).
Ngày 25-1-1988, quân ta đóng giữ đảo Tiên Nữ (Tennent Reef). 
Ngày 31-1-1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Chữ Thập (Fiery Cross Reef).
Đảng ủy Quân chủng Hải quân xác định: “Lúc này, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân".
Ngày 5-2-1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Lát (Ladd Reef). 
Ngày 18-2-1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Châu Viên (Cuarteron Reef).
Ngày 19-2-1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Đông (East London Reef).
Ngày 20-2-1988, quân ta đóng giữ đảo Đá Lớn (Great Discovery Reef).
Ngày 26-2-1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Ga Ven (Gaven Reef).
Ngày 27-2-1988, ta đóng giữ đảo Tốc Tan (Alison Reef).
Ngày 28-2-1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Huy Ghơ (Hughes Reef, đá Tư Nghĩa), cùng ngày ta đóng giữ đảo Núi Le (Cornwallls South Reef).
Ngày 14-3-1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Gạc Ma (Johnson Reef). Ta đóng giữ và bảo vệ thành công đảo Cô Lin (Collins Reef hay Johnson North Reef), đảo Len Đao (Landsdowne Reef).
Ngày 15/3/1988, ta đóng giữ đảo Đá Thị (Núi Thị, Petley reef)
Ngày 16/3/1988, ta đóng giữ đảo Đá Nam (South reef) 
Ngày 23-3-1988, Trung Quốc chiếm đóng đảo Xu Bi (Subi Reef).
Theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, và một số tư liệu khác  


Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

Chuyện Trường Sa 1988, của người yêu Trường Sa


Loạt bài ghi lại những kỷ niệm với Trường Sa của một cựu chiến binh Trường Sa, của những nhà báo, nhạc sỹ, ca sỹ đã từng ra thăm Trường Sa và của một cô giáo ước một lần được ra với Trường Sa. Những câu chuyện của họ đều có một điểm chung: Kỷ niệm sâu sắc nhất, xúc động nhất, có liên quan với ngày 14 tháng 3 năm 1988, ngày Trung Quốc gây hấn, đánh chiếm đảo Gạc Ma.  

I - TIẾP QUẢN TRƯỜNG SA  
Đại tá Nguyễn Văn Dân sinh năm 1945 tại xã Bình Minh, Tĩnh Gia, Thanh Hoá, nhập ngũ năm 1964. Có gần 20 năm (1975 – 1994) gắn bó với quần đảo Trường Sa trước khi phụ trách Hệ đào tạo sau đại học của Học viện Hải quân rồi nghỉ hưu năm 2000, ông được coi là một trong những kho tư liệu sống về Trường Sa.
Đại tá Nguyễn Văn Dân
Năm 1975, tôi đang là Trung uý, trợ lý tham mưu của Khu vực 2 Sông Mã, Hải quân (Khu vực là cấp tổ chức hải quân, tương đương Vùng hiện nay), được lệnh tham gia Đoàn công tác tiếp quản căn cứ Cam Ranh. Đoàn gồm 42 người, do Trung tá Hà Trung Hỷ, Chính uỷ K2 chỉ huy (tháng 9-1975, Lữ đoàn 126 Hải quân đánh bộ được thành lập, ông Hà Trung Hỷ là Chính uỷ Lữ đoàn – N.Đ.Q), Đại uý Ngô Lai làm Tham mưu trưởng.
          Đoàn đi tàu đến Đà Nẵng ngày 2-4-1975. Tại đây, chúng tôi được biết chủ trương của trên, phải bí mật, nhanh chóng giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa đang do quân Sài Gòn đóng giữ, kiên quyết không để lực lượng nào khác nhân tình hình lúc đó để chiếm đóng. Rồi tàu chúng tôi đi tiếp, đến quân cảng Quy Nhơn tối 6 tháng Tư. Khi đó, ở cảng Quy Nhơn vẫn chưa hết tiếng súng. Từ Quy Nhơn, Đoàn đi ô tô, vào đến Nha Trang ngày 7-4. Ở đây, chúng tôi được lệnh gấp rút ra tổ chức tăng cường cho lực lượng ở Trường Sa. Giữa tháng Tư, chúng tôi xuống hai tàu do Bộ Tư lệnh Hải quân đưa từ Hải Phòng vào, giả dạng tàu cá số hiệu 679 – 680, ra Trường Sa.
 
Hồ Song Tất Minh, em bé đầu tiên được sinh ra trên đảo Song Tử Tây và cả quần đảo Trường Sa
          Ngày 14, ta giải phóng đảo Song Tử Tây. Chúng tôi tiếp quản đảo Song Tử Tây từ đơn vị giải phóng đảo, tổ chức lại công tác bảo vệ và nắm thêm tình hình chung. Sau đó, chúng tôi đến đảo Sơn Ca, một ngày sau khi đảo này được lực lượng ta trên tàu 641 giải phóng (25-4). Tại đây, Đoàn nhận 16 tù binh Sài Gòn để đưa về Cam Ranh trên tàu 641. Anh Hùng người Hà Tây, chỉ huy đơn vị giải phóng đảo Sơn Ca cho biết, hình như có một – hai lính Sài Gòn bơi sang đảo Ba Bình bên cạnh, do Đài Loan chiếm đóng. Sau đó, Đoàn tiếp tục đến đảo Nam Yết. Lúc đó ở gần Nam Yết có một tàu khu trục của hải quân Sài Gòn, nhưng tàu này rút đi khi thấy tàu ta tới. 
          Đảo thứ tư Đoàn tới là đảo Sinh Tồn. Chúng tôi dừng tại đây lâu hơn. Khi đó, trên đảo còn ngôi mộ của một Thiếu uý Sài Gòn, bia ghi tên là Tính hay Tích gì đó, lâu rồi tôi không nhớ, ở Chợ Lớn, bị bệnh chết. Tôi nói với anh em, dù ở bên nào, nhưng họ cũng là người Việt Nam, tham gia giữ chủ quyền cho Tổ quốc, nay chết ở đây, mình cũng nên giữ mộ cho họ. Từ đảo Sinh Tồn, chúng tôi đến đảo Trường Sa Lớn, ngày 2 tháng Năm. Đây là đảo chúng tôi ở lại lâu nhất để củng cố tổ chức, lực lượng, đảm bảo các hoạt động.
tuần tra bảo vệ đảo Trường Sa, tháng 4-1996
          Nhìn chung, khi đó tổ chức phòng thủ của quân Sài Gòn tại Trường Sa còn sơ sài, thực phẩm cho lính chỉ có gạo sấy và đồ hộp. Các đảo còn hoang vu, ở Nam Yết cây mọc khá rậm rạp. Nhưng đảo này và đảo Sơn Ca hầu như không có chim, trong khi ở Song Tử Tây, Sinh Tồn và Trường Sa rất nhiều chim. Có những bãi chim, chim bay ào ào trên đầu, còn dưới đất chim con nằm dày đặc, chúng tôi không dám bước chân… Lúc đầu, chúng ta chưa xác định được cơ cấu tổ chức, trang bị, phương tiện, công tác phòng thủ tại các đảo. Dần dần, các khâu này được hoàn chỉnh, việc bảo đảm đời sống cho anh em trên các đảo đi vào nề nếp. Năm 1976, ta bắt đầu làm sân bay ở Trường Sa… 
Trong quá trình ra tiếp quản các đảo năm 75, hầu như chúng tôi không thấy tàu Mỹ. Nhưng có một số tàu của Trung Quốc ở quanh các đảo. Khi thấy tàu ta đến, họ rút đi. Ở các đảo Thị Tứ, Loại Ta chúng tôi thấy có tàu mang cờ Philippines …
hiện trạng quần đảo Trường Sa
Trung tuần tháng 5 năm 75, tôi về lại Nha Trang, được cử làm Cảng vụ trưởng ở căn cứ Cam Ranh. Tháng 8 năm 75, tôi làm Hải đội phó Hải đội Cam Ranh. Tháng 10 năm 78, Vùng 4 duyên hải được thành lập. Năm 80, tôi là Đại uý Hải đội trưởng, được điều lên làm Trưởng ban Huấn luyện của Vùng 4, rồi được cử đi học ở Liên Xô. Năm 1983 về nước, tôi làm Phó Tham mưu trưởng Vùng, được giao nhiệm vụ chuyên giúp cho các đảo Trường Sa...
Tháng 3-2009

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2013

Suy!

Chen đền, chùa, rồi hóng thơ
Quanh năm chỉ vậy, bao giờ khá lên!


Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Tự chủ

Hình như càng ngày càng nhiều, số người Việt để tâm lý đám đông chi phối cảm xúc cá nhân, cảm xúc cá nhân nhất thời lấn át, dẫn dắt lý trí và ý chí.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

Thưa với tướng Cương về trách nhiệm với lịch sử


Trong bài “Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979” - http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx, Thiếu tướng Lê Văn Cương nói “Không chỉ nhận thức, mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa… Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ thắc mắc khá nhiều chuyện, tại sao sự kiện chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của Việt Nam. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng…”
Với tất cả sự kính trọng với Thiếu tướng Lê Văn Cương, tôi phải hỏi, ông có đọc các giáo trình lịch sử Việt Nam, khi nói những lời trên? Thưa ông, giáo trình lịch sử lớp 12 đây ạ.  

Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12
Bài tập lịch sử lớp 12



Bổ sung:









Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

Tiếng Mẹ Đẻ


Vừa xem Lời Muốn Nói, một chương trình ca nhạc theo yêu cầu trên VTC1. Trong chương trình, có một bài hát về con thương mẹ. Khi nghe anh chàng răng khểnh đẹp trai Minh Quân hát lặp đi lặp lại “máma, máma”, mình chuyển kênh.
          Nhớ hồi xưa xem phim 17 Khoảnh Khắc Mùa Xuân, có người cùng nhóm với Isaev – Stirlitz là Katya - nữ điệp viên Liên Xô giả danh cô gái Đức với tên Catherine. Katya bị lộ vì khi đau đẻ, cô đã gọi mẹ bằng tiếng Nga, chứ không phải tiếng Đức.
          Tiếng Mẹ Đẻ - chỉ ba từ thôi, nhưng là cả một nền văn hóa.
Kêu rằng con thương mẹ, con nhớ mẹ, mẹ là tất cả, con yêu mẹ lắm… nhưng gọi mẹ là máma, vứt!